Truyền thông đưa tin, Mỹ đã bắn hạ 4 máy bay không người lái (UAV) của Iran và tấn công một trạm điều khiển mặt đất dành cho UAV tại thành phố cảng Bandar Abbas ở miền Nam Iran vào hôm 27/5. Các cuộc tấn công diễn ra sau các vụ nổ ở Bandar Abbas vào 25/5.
Bộ Ngoại giao Iran cáo buộc Washington vi phạm lệnh ngừng bắn vốn có hiệu lực kể từ ngày 8/4.
Hãng thông tấn bán chính thức Tasnim của Iran cũng đưa tin các lực lượng Iran đã nổ súng vào một căn cứ không quân của Mỹ trong khu vực để đáp trả cuộc tấn công của Mỹ gần Bandar Abbas.
Sự leo thang này diễn ra sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố “sẽ không có ai có quyền kiểm soát” eo biển Hormuz.
Bandar Abbas có vị trí chiến lược về quân sự
Bandar Abbas, nơi đặt các lực lượng hải quân chủ lực của Iran, chiếm giữ một trong những vị trí nhạy cảm nhất về mặt chiến lược tại Vùng Vịnh.
Bandar Abbas nằm trên bờ biển phía nam của Iran, ở phía bắc của Eo biển Hormuz, tuyến đường thủy hẹp nối Vùng Vịnh với vịnh Oman và biển Ả rập. Thành phố có hơn 526.000 người dân này nằm cách điểm hẹp nhất của eo biển khoảng 60km đến 70km về phía bắc.
Vị trí này giúp Iran có khả năng giám sát một trong những tuyến đường hàng hải quan trọng nhất thế giới. Khoảng 20% nguồn cung dầu mỏ và khí đốt toàn cầu được vận chuyển qua eo biển Hormuz trong thời bình.
Kể từ khi lệnh ngừng bắn được công bố vào ngày 8/4, Iran đã tiếp tục kiểm soát hoạt động vận tải hàng hải qua eo biển Hormuz trong khi các lực lượng Mỹ áp đặt lệnh phong tỏa đối với các cảng của Iran.
Bandar Abbas cũng là trụ sở của cả hải quân chính quy Iran và nhánh hải quân của Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC).
Hải quân Iran đã sử dụng nơi này làm căn cứ từ năm 1977 khi Iran chuyển phần lớn hạm đội của mình từ Khorramshahr ở rìa phía tây đường bờ biển Vùng Vịnh của Iran đến Bandar Abbas, biến thành phố này thành trung tâm chỉ huy hải quân chính ở phía nam của đất nước.
Theo Viện Trung Đông, hải quân IRGC sau đó đã di dời trụ sở từ Tehran đến Bandar Abbas để cải thiện khả năng kiểm soát tác chiến dọc theo eo biển Hormuz.
Mặc dù Tổng thống Mỹ Donald Trump và các quan chức Israel tuyên bố năng lực hải quân của Iran đã bị tổn hại nặng nề trong các cuộc tấn công gần đây của họ, Tehran vẫn duy trì một hạm đội tàu tấn công nhanh được vận hành bởi hải quân IRGC.
Các tàu này được thiết kế cho chiến thuật “bầy đàn” và đang được sử dụng chống lại các tàu thương mại không có sự cho phép của Iran để đi qua eo biển Hormuz nhỏ hẹp.
Tầm quan trọng của Bandar Abbas với kinh tế Iran
Eo biển Hormuz không chỉ là một điểm nghẽn quân sự mà còn là huyết mạch kinh tế.
Các nhà phân tích ước tính hơn 90% lượng dầu thô xuất khẩu của Iran được vận chuyển qua eo biển này.
Điều đó làm cho Bandar Abbas và cơ sở hạ tầng Vùng Vịnh lân cận trở nên quan trọng đối với nguồn thu của chính phủ, bao gồm cả các mạng lưới thương mại giúp Iran né tránh các lệnh trừng phạt.
Samir Puri, một giảng viên thỉnh giảng về nghiên cứu chiến tranh tại Đại học Hoàng gia London, cho rằng lệnh ngừng bắn vẫn chưa chính thức sụp đổ bất chấp các cuộc đấu hỏa lực gần đây giữa Mỹ và Iran.
“Những cuộc tấn công này có thể được đặc trưng là các cuộc giao tranh quân sự ăn miếng trả miếng trực diện giữa lực lượng vũ trang hai bên hơn là các cuộc tấn công vào cơ sở hạ tầng hoặc sự tàn phá trên diện rộng”, ông nói.
Ông nhận định thêm: “Những gì quân đội Mỹ đang cố gắng làm là thăm dò xem liệu họ có thể tước bỏ một cách vật lý khả năng kiểm soát eo biển Hormuz của IRGC và Iran hay không. Tất nhiên, Iran muốn chứng minh rằng họ không thể bị tước bỏ năng lực đó”.
Các hoạt động ngoại giao và quân sự đang diễn ra đồng thời khi Iran và Mỹ đã trao đổi hàng loạt đề xuất và phản hồi đề xuất hòa bình kể từ khi lệnh ngừng bắn bắt đầu.
“Điều này đang diễn ra trên các lộ trình song song. Có một lộ trình quân sự và một lộ trình đàm phán đều diễn ra cùng một lúc”, ông Puri nói. Do đó, các cuộc tấn công hạn chế này cuối cùng lại được tung ra như một phần của các cuộc đàm phán khi các bên tìm kiếm đòn bẩy.
Ông Puri cho biết cả Washington và Tehran dường như vẫn có động lực để tiếp tục trung gian hòa giải nhưng hai bên đang tiếp cận các cuộc đàm phán với những mục tiêu rất khác nhau.
Trong cuộc phỏng vấn phát sóng ngày 10-5 trên chương trình "60 Minutes" của Đài CBS News, Thủ tướng Netanyahu nói mục tiêu của ông là đưa phần hỗ trợ tài chính quân sự từ Mỹ "về con số 0".
"Tôi muốn giảm phần hỗ trợ tài chính của Mỹ trong hợp tác quân sự giữa hai nước xuống bằng 0", nhà lãnh đạo Israel tuyên bố.
Ông cho biết Tel Aviv hiện nhận khoảng 3,8 tỉ USD viện trợ quân sự mỗi năm từ Washington. Mỹ trước đó đã cam kết cung cấp tổng cộng 38 tỉ USD viện trợ cho Israel trong giai đoạn 2018 - 2028.
Dù vậy ông cho rằng hiện nay là thời điểm thích hợp để "tái cơ cấu" quan hệ tài chính giữa hai đồng minh lâu năm. "Tôi không muốn chờ đến Quốc hội khóa sau. Tôi muốn bắt đầu ngay từ giờ", ông nói.
Trong nhiều thập niên, việc viện trợ quân sự cho Israel luôn nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ cả hai đảng tại Quốc hội Mỹ. Tuy nhiên mức độ đồng thuận này đã suy giảm đáng kể kể từ khi chiến sự Gaza bùng phát hồi tháng 10-2023.
Một khảo sát của Trung tâm Pew Research thực hiện hồi tháng 3 cho thấy 60% người trưởng thành tại Mỹ có cái nhìn không thiện cảm với Israel, trong khi 59% cho biết họ ít hoặc không tin tưởng ông Netanyahu sẽ xử lý đúng đắn các vấn đề quốc tế. Cả hai chỉ số đều tăng 7 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
Ông Netanyahu cho rằng nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm ủng hộ dành cho Israel tại Mỹ là sự phát triển bùng nổ của mạng xã hội.
Ông cáo buộc một số quốc gia, dù không nêu tên, đã thao túng các nền tảng mạng xã hội theo cách "gây tổn hại nghiêm trọng" cho Israel, song khẳng định bản thân không ủng hộ kiểm duyệt.
Cuộc phỏng vấn cũng đề cập đến chiến sự với Iran, bắt đầu từ ngày 28-2 sau khi Mỹ và Israel phát động chiến dịch quân sự nhằm vào Tehran.
Theo ông Netanyahu, chỉ sau khi chiến sự nổ ra, phía Israel mới thực sự nhận thức được mức độ rủi ro từ khả năng Iran phong tỏa eo biển Hormuz - tuyến hàng hải vận chuyển khoảng 20% lượng dầu toàn cầu.
Ông từ chối tiết lộ kế hoạch quân sự hoặc thời điểm cụ thể trong chiến dịch quân sự tại Iran, nhưng cho rằng nếu chính quyền Tehran suy yếu hoặc sụp đổ, các lực lượng đồng minh của Iran trong khu vực như Hezbollah, Hamas và Houthi cũng có thể mất chỗ dựa.
"Khi toàn bộ mạng lưới lực lượng ủy nhiệm mà Iran xây dựng sụp đổ, cục diện khu vực sẽ thay đổi", ông Netanyahu nói.
Khi được hỏi liệu việc lật đổ chính quyền Iran có khả thi hay không, Thủ tướng Israel đáp: "Có khả thi không? Có. Nhưng được đảm bảo không? Không".
Theo Hãng tin AFP ngày 28-4, phát biểu tại cuộc họp báo chung với Tổng thống Estonia Alar Karis, Tổng thống Phần Lan Alexander Stubb nhấn mạnh vai trò then chốt của quân đội Ukraine, gọi đây là "lực lượng lớn nhất, hiệu quả nhất và hiện đại nhất ở châu Âu".
"Thay vì nghĩ rằng Ukraine cần châu Âu, có lẽ chúng ta nên nghĩ rằng chính châu Âu cần Ukraine nhiều hơn", ông Stubb nói.
Theo ông, thay vì chỉ nhìn nhận Ukraine như một bên cần được hỗ trợ, các nước châu Âu nên đánh giá lại mức độ phụ thuộc chiến lược của mình vào Kiev, cả trong khuôn khổ Liên minh châu Âu (EU) lẫn Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO).
Trong những năm gần đây, châu Âu đã tăng tốc củng cố năng lực phòng thủ nhằm ứng phó với cuộc xung đột kéo dài giữa Nga và Ukraine, cũng như các hình thức tấn công "lai" từ Matxcơva như sử dụng máy bay không người lái, nghi phá hoại và chiến dịch truyền thông thông tin sai lệch.
Trong bối cảnh đó, cả Phần Lan và Estonia đều công khai ủng hộ nguyện vọng gia nhập EU và NATO của Ukraine.
Dù nhìn chung các nhà lãnh đạo châu Âu vẫn ủng hộ nguyện vọng này của Ukraine, nhưng khối này chưa sẵn sàng thúc đẩy tiến trình để Kiev thực sự trở thành thành viên chính thức, bất chấp những lời kêu gọi từ Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky.
Về phần NATO, triển vọng trở thành một phần khối này của Kiev vẫn còn nhiều trở ngại, khi Tổng thống Mỹ Donald Trump thể hiện lập trường phản đối việc mở rộng liên minh để kết nạp thêm thành viên.
Đáng chú ý, ông Stubb cho rằng tình hình chiến trường gần đây đang có dấu hiệu chuyển biến có lợi cho Ukraine.
Dẫn các số liệu mới nhất, ông cho biết tổn thất của phía Nga đã tăng lên mức 30.000 - 35.000 binh sĩ mỗi tháng, với tỉ lệ thương vong ước tính là cứ một binh sĩ Ukraine thì có năm binh sĩ Nga.
"Nếu nhìn vào bốn tháng qua, Ukraine thực tế đang làm tốt hơn Nga", ông nói.
Ngoài ra, nhà lãnh đạo cũng nhận định Ukraine đã cải thiện đáng kể năng lực tấn công tầm xa, hiện có thể phóng nhiều tên lửa và máy bay không người lái vào lãnh thổ Nga hơn so với chiều ngược lại. Trong khi đó tốc độ tiến quân của Nga bị đánh giá là chậm, với chi phí rất lớn về nhân lực, khoảng 250 binh sĩ thiệt mạng cho mỗi km² kiểm soát được.
Tại buổi họp báo vài giờ sau khi Tổng thống Donald Trump tuyên bố ngừng bắn giữa Mỹ và Iran trong sáng 8.4, ông Caine đã tiết lộ về lượng cà phê và nước tăng lực được các quân nhân sử dụng để giữ sự tỉnh táo trong xung đột với Iran kéo dài gần 6 tuần, Đài CBS News đưa tin.
"Trong suốt cuộc chiến, chúng tôi đã tiêu thụ hơn 6 triệu bữa ăn và theo ước tính của tôi, chúng tôi đã dùng hơn 950.000 gallon cà phê (gần 3,6 triệu l), 2 triệu lon nước tăng lực và rất nhiều nicotine (chất thường có trong thuốc lá)”, ông nói.
Lượng cà phê nói trên tương đương 7,6 triệu tách cà phê. Ông Caine không nêu rõ cách quân đội thống kê lượng cà phê, nước tăng lực đã sử dụng. Việc quan chức quân đội Mỹ đưa ra con số trên phần nào nêu bật tính chất căng thẳng của chiến dịch “Epic Fury” của Mỹ nhằm vào Iran. Ông Dan Caine khẳng định số lượng chất kích thích sử dụng được công khai không nói rằng quân đội Mỹ đang gặp vấn đề.
Ông Caine bày tỏ lòng biết ơn đối với các quân nhân đã chịu đựng những ngày tháng khó khăn. “Đây là công việc gian khổ và khắc nghiệt. Nó hỗn loạn, nóng bức, tối tăm, khó lường và luôn tiềm ẩn những điều không biết trước”, ông nói.
Quân đội Mỹ có sự gắn kết mật thiết đến văn hóa uống cà phê. Trong thời kỳ Nội chiến Mỹ (giữa thế kỷ 19), binh sĩ đôi khi đình chiến và phe miền bắc dùng hạt cà phê để đổi lấy thuốc lá từ miền nam, trước khi trở lại giao tranh, theo trang Grand Pinnacle Tribune.
Người Mỹ cũng sử dụng từ lóng để gọi 1 tách cà phê là “cup of Joe”. từ này bắt nguồn từ thời Thế chiến 1, khi cố Bộ trưởng Hải quân Mỹ Josephus Daniels đã cấm sử dụng rượu trên các tàu chiến, biến cà phê trở thành thức uống “mạnh nhất” trên tàu. Các thủy thủ khi đó đã gọi tách cà phê là “cup of Joe” như một cách chơi chữ dựa theo tên của ông Daniels.