Mô hình sở hữu kỳ nghỉ thế giới vẫn phát triển, vào Việt Nam bị biến tướng

Mô hình sở hữu kỳ nghỉ thế giới vẫn phát triển, vào Việt Nam bị biến tướng

Vì sao mô hình sở hữu kỳ nghỉ trên thế giới vẫn phát triển?

Đơn vị vận hành chính thức mô hình sở hữu kỳ nghỉ đầu tiên trên thế giới là Hapimag có trụ sở tại Baar (Thụy Sĩ). Công ty này thành lập từ năm 1963 và vẫn còn hoạt động cho đến hiện nay.

Vào tháng 9/1963, chủ sở hữu của Hapimag là Alexander Nette và cộng sự của ông bắt đầu mua các bất động sản nghỉ dưỡng tại Italia, Tây Ban Nha và Thụy Sĩ.

Với những khu nghỉ dưỡng này, công ty Hapimag đã cung cấp cho các khách hàng nhiều lựa chọn về nơi lưu trú thông qua việc mua tuần nghỉ cố định.

Sau đó, vào năm 1974, RCI – hệ thống trao đổi kỳ nghỉ đầu tiên trên thế giới xuất hiện tại bang Indiana (Mỹ). Đến nay, RCI là một trong những hệ thống trao đổi kỳ nghỉ lớn nhất thế giới với hơn 4.300 khu nghỉ dưỡng tại hơn 100 quốc gia.

Về bản chất, người sở hữu hợp đồng kỳ nghỉ là người có quyền dùng dịch vụ nghỉ dưỡng, được sử dụng hệ thống lưu trú trong một khoảng thời gian nhất định mỗi năm theo các điều khoản được xác lập.

Điều này có nghĩa, người mua không sở hữu bất động sản, không sở hữu một phần khách sạn hay khu nghỉ dưỡng. Giá trị của sản phẩm nằm ở quyền được sử dụng dịch vụ, tương tự như nhiều mô hình hội viên đang được áp dụng phổ biến trong lĩnh vực nghỉ dưỡng trên thế giới.

Theo bản chất mô hình trên thế giới, sở hữu hợp đồng kỳ nghỉ không phải là một sản phẩm đầu tư tài chính. Mục tiêu cốt lõi của mô hình là mang lại trải nghiệm nghỉ dưỡng dài hạn, giúp khách hàng chủ động kế hoạch du lịch, đồng thời tiếp cận hệ thống dịch vụ với mức chi phí được xác lập từ trước.

Đến nay, mô hình sở hữu kỳ nghỉ trên thế giới vẫn phát triển, được những tập đoàn khách sạn và nghỉ dưỡng lớn tiếp tục đầu tư, mở rộng. Theo phân tích từ các chuyên gia, nguyên nhân đến từ việc mô hình này giúp giải quyết bài toán cốt lõi trong quản trị và vận hành ngành du lịch nghỉ dưỡng.

Cụ thể, mô hình không chỉ mang lại lợi ích cho khách hàng, còn giúp doanh nghiệp xây dựng nguồn tài chính dài hạn, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào lượng khách đặt phòng tùy theo từng mùa hoặc từng thời điểm.

Khách hàng tham gia chương trình sở hữu kỳ nghỉ, doanh nghiệp được chủ động trong kế hoạch vận hành, đầu tư cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng dịch vụ dài hạn.

Ngoài ra, mô hình này còn góp phần hình thành tệp khách hàng trung thành vốn là điều quan trọng nhất với các thương hiệu nghỉ dưỡng. Thay vì liên tục tìm kiếm khách hàng mới, doanh nghiệp được duy trì mối quan hệ lâu dài với thành viên, nâng cao tỷ lệ khách quay lại, mở rộng cơ hội sử dụng dịch vụ khác trong hệ sinh thái.

Với những lợi thế này, điều đó lý giải vì sao mô hình sở hữu kỳ nghỉ tiếp tục tăng trưởng trên toàn cầu. Số liệu từ Fortune Business Insights cho thấy, quy mô thị trường của mô hình này đạt khoảng 15 tỷ USD, dự báo vượt 31 tỷ USD trong thập niên tới.

Bên cạnh đó, con số từ Hiệp hội Phát triển Khu nghỉ dưỡng (Mỹ) cung cấp chỉ ra rằng, riêng tại Mỹ, doanh số bán hợp đồng kỳ nghỉ đạt khoảng 10,5 tỷ mỗi năm. Tỷ lệ lấp đầy trung bình tại các khu nghỉ dưỡng vận hành theo mô hình này luôn duy trì ở mức 81,2%, cao hơn phân khúc lưu trú truyền thống vốn bị ảnh hưởng bởi tính thời vụ.

Mô hình sở hữu kỳ nghỉ ở Việt Nam bị biến tướng

Mặc dù mô hình sở hữu kỳ nghỉ đã phát triển trên thế giới, nhưng tại Việt Nam hành lang pháp lý đối với loại hình này vẫn còn nhiều khoảng trống. Thời gian qua, Dân trí đã phản ánh nhiều vụ việc liên quan tới khách hàng trở thành nạn nhân của mô hình này.

Có thể thấy, mô hình bị biến tướng ở nhiều nơi, thậm chí bị lợi dụng để hoạt động lừa đảo. Nhiều hợp đồng được soạn thảo với các điều khoản phức tạp, bất lợi cho người mua, gây khó trong việc hủy hợp đồng hoặc đòi lại tiền đã thanh toán.

Một trong những nguyên nhân có thể thấy đó là, tại các thị trường trên thế giới, mô hình không được quảng bá là tài sản đầu tư hay công cụ đầu cơ sinh lời. Các đơn vị bán hàng khẳng định đây đơn thuần là sản phẩm tiêu dùng du lịch dài hạn.

Bản thân mô hình không có lỗi. Vấn đề nằm ở việc một sản phẩm tiêu dùng bị gắn với kỳ vọng đầu tư tài chính nhằm kích thích nhu cầu mua hàng.

Tại Việt Nam, lỗ hổng pháp lý và áp lực doanh số từ đơn vị đại lý phân phối không uy tín khiến mô hình bị bóp méo. Nhiều đơn vị phân phối áp dụng chiêu tiếp thị quá đà như lôi kéo khách tới hội nghị bằng quà tặng, voucher nghỉ dưỡng miễn phí, tạo áp lực chốt hợp đồng ngay tại phòng.

Các nhân viên kinh doanh thổi phồng khả năng sinh lời của hợp đồng nhưng không đề cập tới điều khoản về phí thường niên, điều kiện đặt phòng ngặt nghèo hay tính thanh khoản thấp.

Khách hàng được mời gọi ký hợp đồng với tâm lý đầu tư tài chính sinh lời nhưng thực tế nhận về sản phẩm tiêu dùng du lịch. Điều này dẫn tới tranh chấp kéo dài.

Theo luật sư Hoàng Văn Hướng, Trưởng Văn phòng Luật sư Hoàng Hưng, khẳng định bản chất mô hình sở hữu kỳ nghỉ vốn là một sản phẩm văn minh trên thế giới, nhưng khi vào Việt Nam đã bị một số đối tượng biến tướng thành công cụ lừa đảo, trục lợi.

Nhóm nạn nhân phổ biến nhất của các vụ việc liên quan đến hợp đồng kỳ nghỉ là người cao tuổi. Đây thường là những người có tài sản tích lũy sau nhiều năm lao động, có tiền tiết kiệm hoặc sở hữu bất động sản giá trị. Bên cạnh đó, nhiều người không am hiểu công nghệ, hạn chế trong việc tiếp cận thông tin và dễ tin tưởng vào những lời tư vấn trực tiếp.

Theo ông, thủ đoạn đầu tiên thường là tặng quà, mời tham dự hội thảo, sự kiện tri ân khách hàng hoặc những buổi giới thiệu sản phẩm nghỉ dưỡng cao cấp. Một số trường hợp còn được mời đi du lịch miễn phí, trải nghiệm thực tế dịch vụ tại các khu nghỉ dưỡng.

  Chèo thuyền, tắm thác giữa đại ngàn Trường Sơn

Sau khi tạo dựng được niềm tin, các công ty bắt đầu thuyết phục khách hàng ký hợp đồng với số tiền ban đầu không quá lớn, chỉ vài chục triệu đến vài trăm triệu đồng.

“Bẫy nằm ở những lời hứa hẹn về lợi nhuận. Họ nói rằng hợp đồng kỳ nghỉ vừa mua giá 200 triệu đồng nhưng chỉ sau một thời gian có thể bán lại với giá 500-600 triệu đồng, thậm chí cao hơn. Nhiều người tin đây là một kênh đầu tư sinh lời nên tiếp tục xuống tiền”, luật sư Hướng phân tích.

Khi khách hàng có nhu cầu bán lại hợp đồng, các đối tượng tiếp tục đưa ra yêu cầu đóng thêm các khoản phí, tiền đặt cọc hoặc chi phí môi giới để hoàn tất giao dịch.

Đồng thời, trong các bộ hợp đồng dài hàng chục trang, nhiều điều khoản bất lợi được cài cắm khiến người mua không nhận ra.

Luật sư này cũng lưu ý, những người đã trót ký hợp đồng hoặc nghi ngờ bị lừa đảo cần nhanh chóng tìm đến luật sư hoặc cơ quan bảo vệ pháp luật để được tư vấn.

Những chứng cứ quan trọng cần được thu thập gồm toàn bộ hợp đồng đã ký, chứng từ chuyển tiền, sao kê giao dịch ngân hàng, tin nhắn, email, ghi âm cuộc gọi, nội dung quảng cáo, thư mời hội thảo và mọi tài liệu liên quan đến quá trình giao dịch.

Đặc biệt, khi phát hiện dấu hiệu bất thường, người dân cần sớm làm đơn tố giác gửi cơ quan công an để được xem xét, xử lý và ngăn chặn các thiệt hại tiếp theo.

Tin Gốc: Dân Trí