Như Dân trí đã thông tin, Công an xã Đại Thanh, Hà Nội đã tiếp nhận đơn tố giác và đang xác minh vụ một thành viên Ban Quản trị CT8, chung cư Đại Thanh (Hà Nội) bị hành hung khi nhắc nhở cư dân đeo rọ mõm cho chó.
Tối 12/5, phóng viên báo Dân trí đã đến bệnh viện và ghi nhận tình hình sức khoẻ của ông T. (thành viên Ban Quản trị CT8) – người bị đánh – trong sự việc này.
Hơn 1 ngày sau khi xảy ra sự việc, ông T. có thể nói chuyện, nhưng phải nằm bất động trên giường bệnh, đeo đai bảo vệ ở cổ để theo yêu cầu của bác sĩ.
“Tôi vẫn bị đau ở đầu và cảm giác buồn nôn”, ông T. cho biết.
Được biết, nạn nhân và gia đình chuyển đến cụm chung cư CT8, chung cư Đại Thanh sinh sống từ năm 2015 và được bầu vào Ban Quản trị từ năm 2025.
Cùng các thành viên Ban Quản trị lên căn hộ nhắc nhở, ông không nghĩ chủ nuôi chó lại phản ứng rồi đánh vào sau gáy.
Sau khi bị tác động, ông T. nằm xuống sàn hành lang và được đưa tới bệnh viện.
“Tôi mong muốn cơ quan chức năng điều tra, xem xét kỹ lưỡng để giải quyết theo trình tự của pháp luật”, ông nói.
Trao đổi với phóng viên Dân trí, ông Đỗ Văn Phương, Trưởng Ban Quản trị CT8 – chung cư Đại Thanh, cho biết trước khi xảy ra sự việc, Ban Quản trị đã nhận được phản ánh từ cư dân về việc một người đàn ông đưa chó có kích thước lớn vào thang máy nhưng không đeo rọ mõm.
Qua quá trình kiểm tra camera giám sát, Ban Quản trị xác định gia đình sở hữu con chó sống ở tầng 22 của tòa 8A.
Tòa nhà đã có quy định cấm nuôi chó, mèo trong căn hộ. Người đàn ông nói trên từng được Ban Quản trị nhắc nhở về vấn đề này.
“Chúng tôi lên làm việc với thái độ đàng hoàng, tử tế”, ông Phương khẳng định.
Trong quá trình trao đổi, mẹ của chủ căn hộ có thái độ hợp tác, đồng ý rút kinh nghiệm.
Nghe ông Phương đề nghị nhân viên an ninh tòa nhà lập biên bản ghi nhận sự việc, chủ nhân của chú chó từ trong nhà đi ra, có lời lẽ thiếu chuẩn mực. Sau khi lời qua tiếng lại, chủ nhân của chú chó tát vào mặt và đấm vào gáy của ông T.
“Nạn nhân xuất hiện triệu chứng buồn nôn và nôn 2 lần trong đêm 10/5. Ngày 11/5, ông T. không thể tự ngồi dậy, phải có người đỡ. Bác sĩ đang yêu cầu tiếp tục theo dõi thêm”, vị Trưởng Ban Quản trị nói.
Ông Phương đã đến trụ sở công an làm đơn trình báo lần hai và cập nhật tình hình sức khỏe với phía cơ quan chức năng.
Theo báo South China Morning Post, cậu bé nói trên học tiểu học tại An Dương, tỉnh Hà Nam. Cậu thường xuyên mất tập trung khi làm bài tập về nhà, đồng thời liên tục nghịch tẩy, rung chân và rời khỏi chỗ ngồi.
Để giải quyết tình trạng này, người mẹ đã chuyển chiếc máy khâu cũ của người bà vào phòng học và để con trai vừa đạp bàn đạp vừa viết bài. Phương pháp này đã mang lại hiệu quả bất ngờ khi giữ cho cả tay và chân của cậu bé đều bận rộn, giúp cậu tập trung liên tục trong hơn một giờ và cải thiện hiệu suất học.
Người mẹ cho biết chiếc máy khâu thuộc thương hiệu lâu đời Feiren của Trung Quốc. Bà đã tra dầu bôi trơn để máy vận hành gần như không tiếng động, bà đồng thời lắp thêm một mặt bàn mới và giá đỡ cằm để ngăn con trai cúi đầu quá thấp khi viết.
Đoạn video chia sẻ trên mạng cho thấy cậu bé đạp theo một nhịp điệu đều đặn, đầu chuyển động nhẹ trong khi ngòi bút vẫn lướt nhanh trên giấy.
Một số ý kiến cho rằng phương pháp của bà mẹ có cơ sở y khoa. Trong Đông y, các bài tập kiễng chân được tin là giúp hướng thân nhiệt xuống dưới, làm dịu tâm trí. Ngoài ra, chuyển động và độ rung ổn định cũng có thể kích thích não bộ.
Nhiều người bày tỏ sự đồng cảm khi nhớ lại tuổi thơ nghèo khó, không có bàn học tử tế và phải mượn máy khâu của bà để làm bài tập. Số khác khen ngợi người mẹ vì đã chọn sự sáng tạo thay vì nổi giận với con.
Ngược lại, một số nhà phê bình cho rằng khối lượng bài tập về nhà quá tải đang bào mòn thời gian nghỉ ngơi của trẻ em, dẫn đến mệt mỏi, kém tập trung và suy giảm thị lực.
Giữa bối cảnh cạnh tranh học tập khốc liệt, nhiều phụ huynh vẫn lấp đầy thời gian sau giờ học của con bằng các lớp học trực tuyến và gia sư riêng.
Để ép con tập trung, không ít người đã tìm đến các phương pháp kỳ lạ như yêu cầu con giẫm lên quả bóng đá hoặc đạp các thiết bị kiểu xe đạp khi làm bài. Một người mẹ ở tỉnh Chiết Giang thậm chí đã phát trực tiếp cảnh con gái làm bài tập để hàng vạn cư dân mạng cùng vào "giám sát".
Mới đây, các bác sĩ khoa Ngoại Đầu - cổ, Bệnh viện K vừa tiếp nhận và phẫu thuật thành công cho một trường hợp người bệnh bị ung thư lưỡi bằng phương pháp vi phẫu.
Hiện nay, đây là kỹ thuật hiện đại nhất trong phẫu thuật tạo hình và điều trị các bệnh liên quan đến ung thư vùng hàm mặt được Bệnh viện K đưa vào triển khai hiệu quả với rất nhiều trường hợp bệnh nhân, tối ưu không chỉ về mặt triệt căn bệnh mà cả về mặt thẩm mỹ.
Bệnh nhân N.V.V. 33 tuổi, trú tại Lào Cai nhập viện trong tình trạng đau, loét lưỡi kéo dài khoảng 4 tháng, anh V. uống, bôi thuốc đều không đỡ. Đến khám tại Bệnh viện K ngay khi tiếp nhận người bệnh, các bác sĩ phát hiện trong khoang miệng của người bệnh có khối u sùi loét.
Qua kiểm tra, các bác sĩ phát hiện ở bờ phải lưỡi của bệnh nhân xuất hiện khối sùi loét bất thường. Kết quả chụp cộng hưởng từ cùng xét nghiệm giải phẫu bệnh xác định bệnh nhân bị ung thư biểu mô vảy sừng hóa xâm nhập độ II – một dạng ung thư xuất phát từ lớp tế bào bề mặt của lưỡi.
Theo TS.BS Ngô Xuân Quý, Trưởng khoa Ngoại Đầu - cổ, khối u có kích thước khoảng 2 x 2,5 cm. May mắn, bệnh chưa di căn hạch hay xâm lấn sang các cơ quan lân cận nên tiên lượng điều trị vẫn tích cực. Nếu tuân thủ đúng phác đồ, khả năng khỏi bệnh có thể đạt 70-80%.
Ngày 20/5, các bác sĩ tiến hành hội chẩn và quyết định phẫu thuật cắt bán phần lưỡi phải kết hợp vét hạch cổ phải, đồng thời tạo hình lại lưỡi cho bệnh nhân.
Bác sĩ Quý cho biết ung thư lưỡi là một trong những bệnh lý ác tính phổ biến ở khoang miệng nhưng ở giai đoạn đầu rất dễ bị nhầm với nhiệt miệng hoặc các vết loét do răng cọ xát. Chính vì vậy, nhiều người chủ quan, chỉ đến bệnh viện khi tổn thương đã lan rộng hoặc di căn hạch.
"Không ít bệnh nhân nghĩ chỉ là loét miệng thông thường nên tự điều trị tại nhà, đến khi nhập viện thì bệnh đã ở giai đoạn muộn", bác sĩ chia sẻ.
Với ung thư lưỡi giai đoạn khu trú, phẫu thuật vẫn là phương pháp điều trị quan trọng nhất bởi tế bào ung thư ở khu vực này thường đáp ứng kém với xạ trị và hóa chất.
Tuy nhiên, đây là ca mổ có độ khó cao do lưỡi chứa hệ thống mạch máu và dây thần kinh phức tạp, liên quan trực tiếp đến khả năng nói, nuốt và cảm nhận vị giác. Các bác sĩ phải vừa loại bỏ triệt để khối u, vừa cố gắng bảo tồn tối đa mô lành để duy trì chức năng cho người bệnh.
Sau khi cắt bỏ gần một nửa lưỡi phải, bệnh nhân đứng trước nguy cơ bị khuyết hổng lớn trong khoang miệng. Nếu chỉ khâu đóng thông thường, lưỡi có thể co kéo và biến dạng nghiêm trọng, ảnh hưởng lâu dài đến việc phát âm và ăn uống.
Để khắc phục, ê-kíp phẫu thuật đã áp dụng kỹ thuật tạo hình vi phẫu bằng vạt da lấy từ chính cẳng tay của bệnh nhân. Dưới kính hiển vi phẫu thuật, các bác sĩ nối những mạch máu và dây thần kinh siêu nhỏ của vạt mô với hệ mạch vùng cổ nhằm nuôi sống phần lưỡi tái tạo.
Phần vạt da được thiết kế phù hợp để hỗ trợ chức năng nói, nuốt, đồng thời đảm bảo đường thở ổn định, giúp bệnh nhân không phải mở khí quản sau mổ.
Ca phẫu thuật diễn ra thuận lợi. Chỉ sau 5 ngày, bệnh nhân đã có thể ăn uống bằng đường miệng và giao tiếp tương đối tốt.
Trong những cuộc trò chuyện gia đình, không khó để bắt gặp sự so sánh: người trẻ hôm nay "yếu đuối hơn", "dễ tổn thương hơn", trong khi thế hệ trước dù nghèo khó, vất vả vẫn sống kiên cường, ít khi than vãn.
Thực tế người trẻ ngày nay cởi mở hơn trong việc chia sẻ cảm xúc, sẵn sàng nói về lo âu, trầm cảm, áp lực công việc hay khủng hoảng bản thân. Nhưng chính sự cởi mở ấy lại khiến họ bị nhìn nhận "mong manh" hơn.
Câu hỏi đặt ra là liệu thế hệ trước thật sự không có vấn đề tâm lý hay họ chỉ không gọi tên chúng?
Nhiều người thuộc thế hệ cha mẹ lớn lên trong bối cảnh kinh tế khó khăn, chiến tranh hoặc thời kỳ hậu chiến. Cuộc sống khi đó ưu tiên sự sinh tồn: có cái ăn, có việc làm, nuôi được gia đình. Trong hoàn cảnh đó, cảm xúc cá nhân thường bị đặt xuống sau cùng. Không phải họ không buồn, không áp lực mà là không có điều kiện để dừng lại và đối diện với những cảm xúc đó.
Sự khác biệt lớn giữa hai thế hệ không nằm ở việc ai "mạnh mẽ" hơn mà ở cách họ đối diện với cảm xúc.
Thế hệ trước thường chọn cách im lặng, coi khó khăn là điều phải vượt qua. Thế hệ trẻ, ngược lại, có xu hướng gọi tên vấn đề, tìm kiếm sự hỗ trợ và đặt câu hỏi về sức khỏe tinh thần.
Nếu thế hệ trước đối mặt với khó khăn về vật chất thì người trẻ ngày nay lại chịu áp lực từ những yếu tố vô hình hơn: cạnh tranh nghề nghiệp, kỳ vọng xã hội, mạng xã hội và sự so sánh liên tục. Những áp lực này không dễ nhìn thấy nhưng lại tác động sâu đến tâm lý. Khi không được thấu hiểu, chúng dễ bị đánh giá là "chuyện nhỏ", dẫn đến khoảng cách giữa các thế hệ ngày càng lớn.
Thay vì đặt hai thế hệ lên bàn cân, có lẽ điều cần thiết hơn là sự thấu hiểu. Người lớn có thể thử lắng nghe nhiều hơn, thay vì so sánh. Người trẻ cũng có thể nhìn lại để hiểu rằng sự kiên cường của thế hệ trước là điều đáng trân trọng.
Sức khỏe tinh thần không phải là câu chuyện của riêng một thế hệ. Nó là vấn đề chung, chỉ khác nhau ở cách mỗi thời đại gọi tên và đối diện. Một xã hội trưởng thành không phải là xã hội không có nỗi buồn mà là nơi con người có thể nói về nỗi buồn của mình mà không bị phán xét.
Thế hệ cha mẹ có thể đã đi qua những tổn thương mà chưa từng gọi tên cho chúng. Thế hệ trẻ hôm nay lại đang học cách gọi tên nỗi buồn. Cả hai, theo những cách khác nhau, đều đang cố gắng sống tốt hơn.
Và có lẽ thay vì hỏi ai mạnh mẽ hơn, điều đáng hỏi hơn là chúng ta có đang cho nhau đủ không gian để được yếu đuối một cách lành mạnh hay chưa.