Sau nhiều tuần giao tranh ác liệt từ khi Mỹ – Israel phát động không kích nhằm vào Iran cuối tháng 2, Washington và Tehran đầu tháng 4 đồng ý ngừng bắn và bắt đầu đàm phán tìm giải pháp lâu dài. Nhưng trong lúc Iran phát tín hiệu sẵn sàng thương lượng, một lực cản đáng chú ý cũng nổi lên trong nội bộ nước này. Đó là Jebhe-ye Paydari, thế lực bảo thủ có quan điểm “siêu cứng rắn”.
Sau khi vòng đàm phán thứ nhất giữa Mỹ và Iran tại Islamabad, Pakistan thất bại, nghị sĩ Mahmoud Nabavian, thành viên phe Paydari, đã công khai chỉ trích quá trình thương lượng về chương trình hạt nhân là “sai lầm chiến lược”. Ông kêu gọi loại Ngoại trưởng Abbas Araghchi khỏi nhóm đàm phán.
Hamidreza Azizi, nhà nghiên cứu tại Viện Đức về Các vấn đề Quốc tế và An ninh, trụ sở ở Berlin, cho rằng sự trỗi dậy của phe bảo thủ Paydari không chỉ phản ánh bất đồng về chính sách đối ngoại, mà còn là cuộc cạnh tranh ảnh hưởng tại Iran sau khi Lãnh tụ Tối cao Ali Khamenei bị hạ sát, phần nào lý giải vì sao tiến trình hòa đàm Mỹ – Iran đến nay vẫn bế tắc.
“Họ coi việc chống lại Mỹ và Israel là một cuộc chiến bất tận”, Azizi nói. “Họ tin rằng một nhà nước Hồi giáo dòng Shiite cần tiếp tục tồn tại cho đến tận thế và khá cực đoan khi nói đến hệ tư tưởng tôn giáo đó”.
Phong trào ‘siêu cách mạng’ của Iran
Jebhe-ye Paydari, tức là Mặt trận Kiên định, hình thành với quan điểm bảo vệ tuyệt đối các giá trị của Cách mạng Hồi giáo năm 1979. Các thành viên của phe này thường tự xem mình là những người bảo vệ “tinh thần cách mạng” trước nguy cơ Iran bị ảnh hưởng bởi phương Tây.
Phe bảo thủ từ lâu đã đóng vai trò chi phối trong hệ thống chính trị Iran, nhưng Paydari vẫn được xem là lực lượng quyết liệt hơn cả. Paydari phản đối gần như mọi hình thức ôn hòa với Mỹ, cho rằng đàm phán không đơn thuần là ngoại giao, mà còn là sự nhượng bộ về ý thức hệ.
Một lý do khiến Paydari phản đối đối thoại với Mỹ là dựa trên chuyện từng xảy ra với Kế hoạch Hành động Toàn diện Chung (JCPOA), thỏa thuận hạt nhân được Iran ký với nhóm P5+1 (gồm Anh, Pháp, Trung Quốc, Nga, Mỹ và Đức) năm 2015 sau quá trình đàm phán kéo dài.
JCPOA từng được xem là đột phá lớn giúp Iran được giảm bớt lệnh cấm vận để đổi lấy việc hạn chế chương trình hạt nhân. Tuy nhiên, Tổng thống Donald Trump năm 2018 đã rút Mỹ khỏi thỏa thuận và tái áp đặt các lệnh trừng phạt, động thái khiến nhiều phe phái ở Tehran cho rằng Washington là đối tác đàm phán “không đáng tin cậy”.
“Mỹ nhận ra họ không mất gì khi hạ sát các lãnh đạo, chỉ huy và người thân yêu của chúng ta”, một bài viết trên Raja News, cơ quan truyền thông Iran ủng hộ Paydari, chỉ trích nỗ lực đàm phán. “Họ hiểu rằng ngay cả khi làm vậy, vẫn có những người ở đây muốn thương lượng và bắt tay với các đại diện Mỹ”.
Theo nghị sĩ cứng rắn Nabavian, sự hiện diện của những người từng tham gia đàm phán JCPOA, trong đó có Ngoại trưởng Araghchi, vào tiến trình ngoại giao hiện nay khiến Iran “không có hy vọng đạt thỏa thuận có lợi”.
Cạnh tranh ảnh hưởng
Cũng như nhiều thế lực khác, Paydari được cho là đang tìm cách mở rộng ảnh hưởng trên chính trường Iran, khi Lãnh tụ Tối cao Mojtaba Khamenei kế nhiệm đang tìm cách củng cố quyền lực. Phe này hiện có nhiều thành viên nổi bật, đã xây dựng vị thế đáng kể tại Iran trong nhiều năm qua.
Một trong những thành viên của Paydari là Saeed Jalili, cựu ứng viên tổng thống Iran từng nhận khoảng 13 triệu phiếu trong cuộc bầu cử năm 2024. Em trai ông, Vahid Jalili, là quan chức cấp cao tại Đài truyền hình quốc gia Iran IRIB.
Ngoài chính trị và truyền thông, Paydari còn có hậu thuẫn từ giới giáo sĩ bảo thủ. Lãnh tụ tinh thần trước đây của Paydari là giáo chủ Mohammad-Taqi Mesbah-Yazdi nổi tiếng với quan điểm cứng rắn. Người kế nhiệm là Mahdi Mirbaqiri, từng được coi là ứng viên tiềm năng cho vị trí Lãnh tụ Tối cao Iran.
Theo chuyên gia Azizi, Mirbaqiri có tư tưởng “mang màu sắc tận thế” và tin rằng đối đầu quy mô lớn với phương Tây là điều tất yếu. Những tư tưởng như vậy giúp Paydari thu hút được một bộ phận thanh niên bảo thủ Iran, đặc biệt sau nhiều tháng xung đột với Mỹ và Israel.
“Họ tìm cách xây dựng hình ảnh là hiện thân cho lý tưởng mà Lãnh tụ Tối cao Ali Khamenei từng đề ra, nhằm tạo ra một thế hệ cách mạng trẻ tuổi, mộ đạo và đủ khả năng tiếp nối di sản của Cộng hòa Hồi giáo”, ông Azizi nói.
Phe Paydari gần đây đang đẩy mạnh gây áp lực lên chính quyền Iran. Tại Tehran, hàng nghìn người ủng hộ phe này đã tham gia các cuộc tuần hành phản đối đàm phán với Mỹ. Các bài phát biểu tại những cuộc tụ tập thường nhấn mạnh rằng Iran chỉ có thể đạt thỏa thuận có lợi nếu tiếp tục duy trì lập trường cứng rắn.
Trên truyền thông nhà nước và mạng xã hội, nhiều người thuộc phe Paydari liên tục công kích đội ngũ đàm phán của Tehran. Họ cáo buộc các nhà đàm phán, trong đó có Chủ tịch Quốc hội Mohammad Bagher Ghalibaf cũng như Ngoại trưởng Araghchi, là “thiếu trung thành” với Cộng hòa Hồi giáo và vượt qua “lằn ranh đỏ” mà Lãnh tụ Tối cao đề ra.
Một số nghị sĩ có quan hệ với nhóm này còn từ chối ký tuyên bố ủng hộ phái đoàn đàm phán của Iran. Các động thái đó được cho là lý do khiến Tổng thống Trump gần đây mô tả giới lãnh đạo Iran là “rạn nứt” và “hỗn loạn”.
Giới phân tích nhận định Paydari chưa đủ mạnh để chi phối toàn bộ chính sách của Tehran. Theo Mohammad Ali Shabani, biên tập viên trang Amwaj.media chuyên theo dõi tình hình Iran và Trung Đông, phe cứng rắn đang đối mặt phản ứng ngược, khi đàm phán rơi vào bế tắc và Mỹ áp lệnh phong tỏa cảng biển, khiến nền kinh tế dựa vào xuất khẩu dầu của Iran gặp nhiều khó khăn.
“Họ gây nhiều ồn ào và bị cho là tiếp tay để Israel và Mỹ khắc họa Iran như một đất nước đang rơi vào chia rẽ nội bộ sâu sắc. Nhóm cực đoan này đang vấp phải phản ứng từ mọi phía và ngày càng bị cô lập”, ông Shabani nói.
Shabani cho rằng các phe bảo thủ ở Iran không phản đối đạt thỏa thuận với Mỹ, mà chỉ muốn chính họ là bên đứng ra đạt được thỏa thuận đó nhằm gia tăng ảnh hưởng và tái cấu trúc quyền lực trong nước.
“Họ cho rằng nếu tiếp tục đối đầu, Iran có thể buộc Mỹ phải nhượng bộ và sau đó áp đặt các điều kiện của mình”, ông Shabani nói. “Không ai ở Iran phản đối một thỏa thuận. Vấn đề nằm ở chiến thuật để đạt được thỏa thuận đó và ai sẽ là người đứng ra thực hiện”.
Từng được xem là nơi có bầu trời đêm tối và trong nhất hành tinh, sa mạc Atacama (Chile) đang đối mặt nguy cơ đánh mất lợi thế đặc biệt do ô nhiễm ánh sáng ngày càng gia tăng.
Sự mở rộng đô thị, khai thác tài nguyên và các dự án năng lượng khiến ánh sáng nhân tạo lan tới cả những khu vực vốn biệt lập. Với các kính thiên văn cực nhạy, chỉ một nguồn sáng nhỏ cũng đủ làm suy giảm đáng kể chất lượng quan sát.
Tại đây, Đài quan sát Nam Âu đang xây dựng kính thiên văn Extremely Large Telescope - dự kiến hoàn thành vào năm 2030 - với kỳ vọng phát hiện các hành tinh giống Trái đất và tìm lời giải cho câu hỏi về sự sống ngoài vũ trụ.
Tuy nhiên, môi trường quan sát lý tưởng của Atacama đang bị đe dọa không chỉ bởi ánh sáng mà còn bởi bụi, rung chấn vi mô và nhiễu loạn khí quyển từ các hoạt động công nghiệp. Những yếu tố này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của các thiết bị trị giá hàng tỉ USD.
Một dự án năng lượng từng được đề xuất gần khu vực đài quan sát Paranal, cách khoảng 10km, đã vấp phải phản ứng mạnh từ giới khoa học và cuối cùng bị hủy bỏ. Sự việc cho thấy "bầu trời tối" mong manh trước áp lực phát triển.
Giới chuyên gia cảnh báo nếu không có biện pháp kiểm soát chặt chẽ, Atacama có thể lặp lại bài học trong quá khứ khi một đài quan sát quốc tế tại Chile từng phải đóng cửa vì ô nhiễm từ khai thác mỏ.
Hiện chính phủ Chile và các tổ chức khoa học đang xem xét siết quy định bảo vệ bầu trời đêm, nhưng nhiều ý kiến cho rằng cần hành động quyết liệt hơn.
Theo Hãng tin Reuters, ngày 7-5, Tòa án phúc thẩm Hàn Quốc đã ra phán quyết giảm mức án đối với cựu Thủ tướng Han Duck Soo từ 23 năm xuống còn 15 năm tù.
Ông Han đang phải thụ án do vai trò của ông trong vụ ban bố thiết quân luật của cựu Tổng thống Yoon Suk Yeol hồi tháng 10-2024.
Tòa phúc thẩm giữ nguyên kết luận của tòa sơ thẩm rằng ông Han đã có những hành vi then chốt giúp ông Yoon ban bố thiết quân luật, cũng như không can ngăn quyết định này.
Thẩm phán khẳng định ông Han đã triệu tập cuộc họp nội các để hỗ trợ các thủ tục pháp lý cho việc ban bố thiết quân luật, đồng thời bác bỏ lập luận của ông Han rằng cuộc họp nói trên thực chất nhằm ngăn chặn ông Yoon.
Thẩm phán cũng cho rằng ông Han đã biết về kế hoạch cắt điện, cắt nước đối với một số cơ quan báo chí trong thời gian thiết quân luật nhưng không có động thái ngăn cản.
Chủ tọa phiên tòa tuyên bố: "Bị cáo, với tư cách là thủ tướng, có trách nhiệm kiềm chế và kiểm soát việc tổng thống thực thi quyền lực sai trái, đồng thời giúp tổng thống thực hiện quyền hạn theo đúng pháp luật.
Nhưng ông ấy đã từ bỏ trách nhiệm to lớn đó và đứng về phía những người tham gia cuộc phản loạn... Sau đó ông ấy còn phạm thêm các tội danh để che đậy hành vi của mình, do đó tội của ông ấy là nghiêm trọng".
Tòa cũng tuyên ông Han phạm tội ngụy tạo văn bản tổng thống và khai man.
Tuy vậy, thẩm phán cho biết tòa đã xem xét đến quá trình 50 năm phục vụ trong khu vực công của ông Han, bao gồm nhiều vị trí lãnh đạo tại Bộ Tài chính và Bộ Ngoại giao.
Theo thẩm phán, cũng chưa có đủ căn cứ rõ ràng cho thấy ông Han tích cực tham gia vào kế hoạch của ông Yoon. Tòa lưu ý rằng sau khi quốc hội bỏ phiếu phủ quyết thiết quân luật, ông Han đã triệu tập thêm một cuộc họp nội các khác để thực thi quyết định trên.
Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) Jamieson Greer ngày 2/6 đã thông báo về kế hoạch áp thuế bổ sung, sau khi tiến hành các cuộc điều tra đối với 60 đối tác thương mại. Các mức thuế này vẫn cần phải trải qua một quy trình lấy ý kiến đóng góp trước khi chính thức có hiệu lực.
Phần lớn các đối tác thương mại này đang phải đối mặt với mức thuế đề xuất là 12,5% đối với hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ, bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Brazil. Mức thuế thấp hơn là 10% được áp dụng cho 16 đối tác thương mại, bao gồm Vương quốc Anh, Canada, Mexico, Liên minh châu Âu (EU), Đài Loan và Argentina.
Một số mặt hàng sẽ được miễn trừ thuế, bao gồm thịt bò, cà chua và cà phê. Cơ quan này cũng cho biết đang xem xét một quy định cho phép một số sản phẩm dệt may được vào Mỹ với mức thuế ưu đãi nếu các đối tác đó nhập khẩu một lượng dệt may tương đương từ Mỹ.
Thuế quan vốn là một phần cốt lõi trong chương trình nghị sự kinh tế của Tổng thống Trump. Ông lập luận, các mức thuế đánh vào hàng nhập khẩu có thể làm giảm thâm hụt thương mại và ngăn chặn những gì ông coi là hành vi thương mại không công bằng, mặc dù nhiều nhà kinh tế cảnh báo rằng thuế quan sẽ khiến giá cả leo thang và làm chậm tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, các biện pháp áp thuế sâu rộng theo từng quốc gia của ông Trump được triển khai vào năm ngoái đã bị Tòa án Tối cao bác bỏ vào tháng 2, với phán quyết rằng luật về quyền lực khẩn cấp được chính phủ viện dẫn không bao gồm thẩm quyền áp đặt thuế quan.
Kể từ đó, ông Trump đã tìm cách khôi phục hệ thống thuế quan của mình bằng cách sử dụng các đạo luật khác. Các mức thuế được công bố hôm 2/6 dựa trên Điều 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974, cho phép chính phủ điều tra các hành vi thương mại không công bằng bị cáo buộc và áp đặt thuế quan cùng các hạn chế khác. Văn phòng của ông Greer cũng đã đưa ra một loạt cuộc điều tra theo Điều 301 riêng biệt vào tháng 3 nhằm vào 16 đối tác vì hành vi "dư thừa công suất mang tính cấu trúc", tức là sản xuất nhiều hàng hóa hơn mức họ có thể tiêu thụ.
Tổng thống Trump cũng sử dụng một điều khoản khác của luật thương mại năm 1974 là Điều 122 để tạm thời áp thuế 10% lên hầu hết hàng nhập khẩu gần như ngay lập tức sau phán quyết của Tòa án Tối cao. Tuy nhiên, luật đó chỉ cho phép áp thuế tối đa 150 ngày để ứng phó với tình trạng "thâm hụt cán cân thanh toán lớn và nghiêm trọng". Một tòa án thương mại vào tháng trước ra phán quyết các mức thuế đó không có hiệu lực pháp lý.
Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent đã gợi ý rằng các mức thuế tạm thời đó cuối cùng có thể được thay thế bằng các mức thuế theo Điều 301 giống như các biện pháp vừa được công bố vào hôm 2/6.
Các nước phản ứng
Kế hoạch áp thuế mới của chính quyền ông Trump ngay lập tức vấp phải sự phản đối của Liên minh châu Âu (EU) và Trung Quốc.
Người phát ngôn của Ủy ban châu Âu (EC) Bernd Lange tuyên bố rằng các biện pháp thuế quan mới là "không chính đáng", "vô căn cứ" và đe dọa làm xói mòn các thỏa thuận thương mại xuyên Đại Tây Dương.
Ông Bernd Lange nhấn mạnh rằng tính đến cuối năm 2024, EU đã ban hành quy định được coi là nghiêm ngặt nhất thế giới đối với các sản phẩm liên quan đến lao động cưỡng bức. Các doanh nghiệp châu Âu hiện cũng được yêu cầu phải tuân thủ các quy định khắt khe về tính minh bạch của chuỗi cung ứng và khả năng truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Do đó, theo Brussels, lý do mà Mỹ đưa ra để áp thuế đối với hàng hóa châu Âu dựa trên vấn đề lao động cưỡng bức là không có sức thuyết phục.
Lập trường của EU cũng dựa trên các thỏa thuận thương mại song phương mà hai bên đã đạt được trước đó. Một thỏa thuận được ký kết vào năm ngoái quy định rằng thuế nhập khẩu của Mỹ đối với hàng hóa châu Âu sẽ được giới hạn ở mức 15%, đổi lại EU sẽ từng bước dỡ bỏ một số rào cản thương mại.
Tuy nhiên, nhiều điều khoản của thỏa thuận này vẫn chưa hoàn tất quy trình phê chuẩn, khiến cho sự cân bằng đạt được giữa hai bên trở nên mong manh.
Không chỉ có châu Âu phản đối kế hoạch của Washington. Trung Quốc cũng lên tiếng chỉ trích mạnh mẽ, lập luận rằng các mức thuế mới mang tính chất đơn phương.