Trong công văn gửi các thương nhân thuộc hệ thống phân phối Saigon Petro, doanh nghiệp này cho biết, theo Thông tư 50 của Bộ Công thương về lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống tại Việt Nam, kể từ ngày 1.6 tới, xăng không chì theo quy chuẩn kỹ thuật hiện hành phải phối trộn, pha chế thành xăng E10 để sử dụng cho động cơ xăng trên toàn quốc.
Đồng thời, việc sản xuất và sử dụng xăng E5 RON 92 vẫn tiếp tục được duy trì đến hết ngày 31.12.2026.
Bằng văn bản này, Saigon Petro thông báo đến các thương nhân phân phối trong hệ thống của Công ty cụ thể:
Xăng không chỉ RON 95 mức 3 (RON 95-III) sẽ kinh doanh đến hết ngày 31.5.2026.
Xăng E10 RON 95-III được cung cấp bắt đầu từ ngày 15.5.2026.
Thông báo cũng đính kèm cách hướng dẫn quản lý, sử dụng xăng sinh học đến thương nhân phân phối.
Ngoài ra, về thủ tục để phân phối loại xăng mới, Saigon Petro cho biết, do hợp đồng thương nhân mới được ký kết vào đầu tháng 4 vừa qua, nên Saigon Petro sẽ tiến hành ký kết phụ lục hợp đồng bổ sung chủng loại và sản lượng xăng E10. Đồng thời yêu cầu thương nhân phân phối cung cấp sản lượng tiêu thụ dự kiến xăng E10 về doanh nghiệp để có kế hoạch chuẩn bị nguồn chu đáo.
Trước đó, Tổng công ty Dầu Việt Nam (PVOil), Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) cũng cho biết bán xăng E10 RON 95-III trong hệ thống từ ngày 15.5. Đặc biệt, PVOil Saigon cho biết ngưng bán xăng không chỉ RON 95-III từ ngày 15.5 luôn.
Theo Thông tư 50 của Bộ Công thương, từ ngày 1.6 tới, xăng không chì bắt buộc phải được phối trộn thành xăng E10 để sử dụng cho động cơ xăng trên toàn quốc. Đồng thời, tiếp tục phối trộn, pha chế xăng E5 RON92 để sử dụng cho động cơ xăng đến hết ngày 31.12.2030.
Như vậy, đến nay, các doanh nghiệp đầu mối xăng dầu lớn đang triển khai bán xăng sinh học E10 sớm hơn lộ trình 15 ngày.
Tin Gốc: Thanh Niên

Việt Nam đang đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, kéo theo nhu cầu vốn khổng lồ để tạo động lực cho nền kinh tế bứt phá.
Riêng trong lĩnh vực hạ tầng, hàng loạt dự án trọng điểm đang được triển khai đồng loạt như sân bay Long Thành, cao tốc Bắc - Nam, các tuyến vành đai, cảng biển, năng lượng…đều đòi hỏi nguồn lực tài chính rất lớn và liên tục trong nhiều năm.
Tuy nhiên, trong khi thị trường vốn vẫn chưa phát triển đủ chiều sâu, tín dụng ngân hàng tiếp tục là "mạch máu" dẫn vốn chủ lực của nền kinh tế. Điều này đặt ra áp lực không nhỏ lên hệ thống ngân hàng, đồng thời làm nổi lên yêu cầu cấp thiết phải tái cấu trúc các kênh huy động vốn cho tăng trưởng.
Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, dư nợ tín dụng của toàn nền kinh tế trong giai đoạn 2021 - 2025 tăng rất mạnh, luôn duy trì mức tăng 2 con số. Đặc biệt, tốc độ tăng trưởng của dư nợ tín dụng đạt "đỉnh" với 17,87%, đạt mức 18,4 triệu tỷ đồng. Bước sang quý I/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025.
Trao đổi với Người Đưa Tin, TS. Nguyễn Đức Độ - Nguyên Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Tài chính, Học viện Tài chính cho rằng ngân hàng hiện vẫn là kênh dẫn vốn chủ lực của nền kinh tế. Tuy nhiên, ông cũng cảnh báo việc tăng trưởng tín dụng ở mức quá cao có thể tạo ra những rủi ro đối với an toàn của hệ thống tài chính, ngân hàng.
Theo ông Độ, trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng tín dụng luôn duy trì ở mức cao, trong khi tăng trưởng huy động vốn lại không theo kịp. Đặc biệt, năm 2025, tăng trưởng tín dụng tăng rất mạnh tới 17,87% có một phần đáng kể "chảy" vào lĩnh vực bất động sản, khiến tín dụng bất động sản tăng mạnh.
"Nếu tiếp tục đẩy tăng trưởng tín dụng lên quá cao sẽ gây áp lực lên mặt bằng lãi suất. Khi lãi suất tăng, nhiều doanh nghiệp và dự án đầu tư có thể không còn đủ khả năng hấp thụ vốn, từ đó ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như chất lượng tăng trưởng", ông Độ nói.
TS. Nguyễn Đức Độ cho rằng nếu tiếp tục đẩy tăng trưởng tín dụng lên quá cao sẽ gây áp lực tăng lãi suất. Khi lãi suất tăng các dự án và một số doanh nghiệp có thể không đủ khả năng chịu được lãi suất đó, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và hiệu quả đầu tư.
Theo vị chuyên gia, định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 15% trong năm 2026 của Ngân hàng Nhà nước là mức tương đối phù hợp trong bối cảnh hiện nay. Về dài hạn, vai trò của chính sách tiền tệ cần ưu tiên nhiều hơn cho mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô thay vì liên tục gánh trọng trách thúc đẩy tăng trưởng thông qua mở rộng tín dụng.
Tính đến cuối năm 2025, Việt Nam có khoảng 1,1 triệu doanh nghiệp. Trong đó, có đến gần 98% là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đóng vai trò nòng cốt của nền kinh tế.
Trong mục tiêu tăng trưởng 2 con số giai đoạn 2026 - 2030, bên cạnh vai trò "đầu tàu" của các tập đoàn, doanh nghiệp lớn, sự đóng góp của cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng để mở rộng dư địa tăng trưởng.
Tuy nhiên, bài toán lớn nhất của nhóm doanh nghiệp này vẫn là khả năng tiếp cận vốn, đặc biệt là vốn tín dụng ngân hàng. Với quy mô nhỏ, năng lực tài chính hạn chế, thiếu tài sản bảo đảm và mức độ minh bạch chưa cao, nhiều doanh nghiệp gặp khó trong việc đáp ứng điều kiện vay vốn, dù nhu cầu mở rộng sản xuất, đầu tư công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh ngày càng lớn.
Đề cập đến khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp hiện nay, TS. Nguyễn Đức Độ cho biết các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang thiếu vốn, song đây lại là nhóm có mức độ rủi ro cao hơn, chi phí giám sát khoản vay lớn hơn và tính minh bạch tài chính cũng hạn chế hơn.
"Vì vậy, các ngân hàng thường ưu tiên cho vay đối với những doanh nghiệp có quy mô lớn, tình hình tài chính rõ ràng và khả năng kiểm soát rủi ro tốt hơn", ông Độ nói.
Về vai trò của hệ thống ngân hàng trong thời gian tới, ông Độ nhận định ngành ngân hàng hiện đã ở trạng thái "quá tải" khi phải đảm nhận phần lớn vai trò cung ứng vốn cho nền kinh tế. Mức tăng trưởng tín dụng khoảng 15% đã là nỗ lực lớn, trong khi việc giảm thêm lãi suất cũng không dễ thực hiện.
Do đó, Việt Nam cần phát triển mạnh hơn các kênh dẫn vốn khác như thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thị trường chứng khoán để giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng. Nếu tiếp tục đặt quá nhiều gánh nặng lên ngân hàng, nguy cơ mất an toàn hệ thống và tác động ngược đến nền kinh tế là điều cần được lưu ý.
TS. Nguyễn Đức Độ cho rằng sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa hiện nay về cơ bản vẫn được thực hiện thường xuyên giữa Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hệ thống ngân hàng đã có dấu hiệu quá tải, ông nhận định vai trò của chính sách tiền tệ sẽ cần tập trung nhiều hơn vào mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô. Trong khi đó, chính sách tài khóa sẽ đóng vai trò quan trọng hơn trong việc thúc đẩy tăng trưởng hai con số.
Còn theo TS. Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh, Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng cho rằng, nguồn lực cho nền kinh tế hiện nay vẫn phụ thuộc nhiều vào hệ thống ngân hàng.
Trong ngắn hạn, chưa thể thay đổi ngay lập tức vai trò của tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, về trung và dài hạn, yêu cầu bắt buộc là phải phát triển thị trường vốn.
Theo ông Võ Trí Thành, cần đẩy mạnh kênh huy động qua thị trường chứng khoán, phát hành cổ phiếu (IPO), trái phiếu và phát triển các loại hình quỹ đầu tư. Đây sẽ là những kênh dẫn vốn trung, dài hạn bền vững hơn cho doanh nghiệp.
Riêng với hệ thống ngân hàng, mục tiêu vẫn là điều hòa tốt nhất giữa chống lạm phát và hỗ trợ doanh nghiệp vượt khó.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Sau khi tiêu chí được mở rộng theo Nghị định số 54/2026, nhiều người dân quan tâm nếu chỉ sở hữu đất nhưng chưa có nhà ở có được mua nhà ở xã hội hay không?
Một công dân tại Hà Nội cho biết, đã đứng tên đất ở nhưng chưa xây nhà trên đất, trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà không có thông tin về nhà ở. Người này đặt câu hỏi liệu trường hợp của mình có đáp ứng điều kiện về nhà ở để được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội hay không?.
Trả lời nội dung trên, Bộ Xây dựng cho biết, để được mua hoặc thuê mua nhà ở xã hội, người dân phải thuộc nhóm được hưởng chính sách hỗ trợ và đáp ứng đầy đủ các điều kiện về nhà ở, thu nhập theo quy định pháp luật.
Tại điểm a khoản 1 Điều 78 Luật Nhà ở năm 2023 quy định điều kiện về nhà ở cho đối tượng quy định tại các khoản 1, 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 76 của Luật này để được mua, thuê mua nhà ở xã hội phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
"… đối tượng quy định tại các khoản 1, 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 76 của Luật này để được mua, thuê mua nhà ở xã hội thì phải chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội đó, chưa được mua hoặc thuê mua nhà ở xã hội, chưa được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở dưới mọi hình thức tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội đó hoặc có nhà ở thuộc sở hữu của mình tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội nhưng diện tích nhà ở bình quân đầu người thấp hơn mức diện tích nhà ở tối thiểu;…".
Ngoài ra, Điều 29 Nghị định 100/2024/NĐ-CP quy định rõ hai trường hợp được xem xét về điều kiện nhà ở.
Thứ nhất, người chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình được xác định là không có tên hoặc không có thông tin về nhà ở trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại địa phương nơi có dự án nhà ở xã hội. Trong vòng 7 ngày kể từ khi nhận đề nghị, cơ quan có thẩm quyền sẽ xác nhận tình trạng nhà ở.
Thứ hai, trường hợp đã có nhà ở nhưng diện tích sử dụng bình quân dưới 15m2 sàn/người vẫn có thể đủ điều kiện. Diện tích này được tính trên cơ sở số người đăng ký thường trú tại căn nhà, gồm người đứng đơn, vợ hoặc chồng, cha mẹ và con (nếu có). UBND cấp xã sẽ xác nhận thông tin trong thời hạn 7 ngày kể từ khi nhận hồ sơ.
Từ các quy định trên, Bộ Xây dựng khẳng định: trường hợp công dân (và vợ hoặc chồng của công dân) không có tên hoặc không có nội dung thông tin về nhà ở trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội đó thì đáp ứng điều kiện về nhà ở để được mua nhà ở xã hội.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Theo dự thảo Nghị định hướng dẫn luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, cá nhân kinh doanh; chủ hộ kinh doanh; chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp; người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã sẽ thuộc trường hợp áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh khi: không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký; có số tiền thuế nợ từ 1 triệu đồng trở lên; sau 30 ngày kể từ ngày cơ quan thuế thông báo về việc sẽ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh mà vẫn chưa hoàn thành nghĩa vụ thuế.
Cục Thuế đánh giá, đây là quy định thu hẹp phạm vi áp dụng so với hiện hành, không phải siết chặt hơn.
Theo số liệu tổng hợp, có hơn 50% người nộp thuế ở trạng thái không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký có số tiền thuế nợ dưới 1 triệu đồng.
Nghị định 49/2025/NĐ-CP hiện không quy định ngưỡng nợ tối thiểu, do đó, chỉ cần phát sinh khoản nợ thuế quá hạn, dù nhỏ, người nộp thuế vẫn thuộc diện xem xét tạm hoãn xuất cảnh nếu không khắc phục sau thông báo.
Việc bổ sung ngưỡng từ 1 triệu đồng trở lên nhằm xử lý bất cập đối với các khoản nợ rất nhỏ phát sinh do sai sót kỹ thuật, chậm cập nhật dữ liệu hoặc các nguyên nhân khách quan.
Nếu tiếp tục áp dụng cơ chế không có ngưỡng như hiện hành, biện pháp tạm hoãn xuất cảnh có thể tác động đến số lượng lớn người nộp thuế vì các khoản nợ rất nhỏ, trong khi hiệu quả thu hồi ngân sách không tương xứng.
Theo Cục Thuế, một số ý kiến chỉ nhìn vào con số 1 triệu đồng để đánh giá mức ngưỡng thấp hay cao. Thực tế, trường hợp này không đơn thuần là nợ thuế.
Người nộp thuế thuộc trạng thái "không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký" là trường hợp đã vi phạm nghĩa vụ duy trì thông tin đăng ký thuế chính xác, gây khó khăn cho công tác quản lý, kiểm tra và thu hồi nợ thuế. Đây là hành vi làm gián đoạn kết nối quản lý giữa cơ quan nhà nước với người nộp thuế.
Do đó, việc áp dụng biện pháp quản lý đối với nhóm đối tượng này không chỉ dựa trên số tiền nợ, mà còn xuất phát từ yêu cầu bảo đảm tính tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa tình trạng bỏ địa chỉ kinh doanh để né tránh nghĩa vụ tài chính với Nhà nước.
Nói cách khác, ngưỡng 1 triệu đồng không phải là thước đo duy nhất, mà là điều kiện bổ sung trong tổng thể các dấu hiệu vi phạm đã được xác định.
Cục Thuế nhấn mạnh, tạm hoãn xuất cảnh không được áp dụng ngay khi phát sinh nợ thuế. Theo dự thảo, chỉ sau khi người nộp thuế đã được xác định thuộc trạng thái không hoạt động tại địa chỉ đăng ký; cơ quan thuế đã gửi thông báo về việc sẽ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh; quá 30 ngày kể từ ngày thông báo mà vẫn chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế thì biện pháp này mới được xem xét áp dụng.
Khoảng thời gian 30 ngày là khoảng đệm hợp lý để người nộp thuế kiểm tra, đối chiếu thông tin, thực hiện nộp tiền hoặc liên hệ cơ quan thuế xử lý vướng mắc.
Thực tiễn triển khai cho thấy, đã có khoảng 7.100 người nộp thuế chủ động liên hệ cơ quan thuế để hoàn thành nghĩa vụ và được hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh.
Trước đó, với đề xuất nêu trên, một số chuyên gia thuế cho rằng, ngưỡng nợ thuế tối thiểu 1 triệu đồng là quá thấp, cần nghiên cứu kỹ lưỡng, có cơ sở để đưa ra ngưỡng phù hợp hơn.
Đề nghị được nhiều chuyên gia nhắc tới là, trường hợp người nộp thuế ra đến cửa khẩu mới biết bị tạm hoãn xuất cảnh vì nợ thuế, cơ quan chức năng nghiên cứu có một tài khoản nhận tiền nộp thuế ngay tại chỗ để nhanh chóng giải quyết khó khăn cho người nộp thuế...
Tin Gốc: Thanh Niên

