Ngày 7/4, bác sĩ Hà Cẩm Thương, Phó khoa Sản khoa tự nguyện Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, cho biết thai kỳ của người phụ nữ lớn tuổi nhiều nguy cơ do tiền sử mổ đẻ cũ, đái tháo đường thai kỳ phải uống insulin hằng ngày.
Đến tuần 37, sản phụ chuyển dạ, chỉ định mổ lấy thai. “Đây là ca mổ đầy nguy cơ, gây tê rất khó khăn”, bác sĩ nói. May mắn hai bé chào đời đều khỏe mạnh, phản xạ tốt, sức khỏe sản phụ ổn định.
Bác sĩ cho biết mang thai ở tuổi trên 50, sức khỏe tổng thể và sức đề kháng của người mẹ kém hơn nên mệt mỏi nhiều hơn và dễ gặp các biến chứng như huyết áp cao, tiền sản giật, nhau tiền đạo, đái tháo đường thai kỳ, dọa đẻ non, đẻ non.
Ngoài ra, phụ nữ lớn tuổi thường có các bệnh mạn tính như đái tháo đường, tăng huyết áp, tim mạch… Những bệnh lý này có thể trở nên trầm trọng hơn trong thai kỳ, gây nguy hiểm cho cả mẹ và thai nhi.
Bác sĩ khuyến cáo phụ nữ không nên mang thai khi tuổi cao, đặc biệt mang song thai càng nguy hiểm. Nếu thực hiện IVF thì nên chuyển một phôi, đồng thời phải theo dõi quản lý thai chặt chẽ tại cơ sở y tế chuyên khoa có đội ngũ bác sĩ giàu kinh nghiệm để đảm an toàn cho cả mẹ và con.
Tại Việt Nam, hầu hết phụ nữ mang thai ngoài 50 tuổi đều nhờ can thiệp hỗ trợ sinh sản. Trường hợp lớn tuổi nhất là sản phụ 61 tuổi, ở Hà Nội, mang thai nhờ thụ tinh trong ống nghiệm từ trứng của người hiến tặng và tinh trùng người chồng, bé gái chào đời năm 2018 nặng 2,6 kg. Một sản phụ khác, 60 tuổi, ở Bắc Giang, sinh con lần ba, cũng nhờ thụ tinh ống nghiệm. Một phụ nữ sinh con trai ở tuổi 58 sau khi mãn kinh được hai năm, phải xin noãn của người khác để thụ tinh trong ống nghiệm.
Thùy An
Nguồn: https://vnexpress.net/sinh-doi-o-tuoi-56-5059567.html
Sức Khỏe
Vắc xin phòng não mô cầu A,C,Y,W đã có nghiên cứu lâm sàng tại Việt Nam

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm toàn cầu ghi nhận hơn 1,2 triệu ca mắc viêm não mô cầu và khoảng 135.000 ca tử vong. Tại Việt Nam, tình hình dịch tễ cũng đang có chiều hướng phức tạp khi số ca bệnh trong năm 2025 đã tăng gấp 6 lần so với cùng kỳ năm ngoái.
Trong hội thảo khoa học diễn ra vào trung tuần tháng 3 tại Hà Nội, với chủ đề: "Từ bằng chứng lâm sàng tại Việt Nam tới công nghệ đột phá MenACYW-TT: Chiến lược bảo vệ tối ưu trước não mô cầu xâm lấn", GS-TS Trần Minh Điển cho biết, điều đáng sợ nhất của Viêm não mô cầu không dừng lại ở tốc độ lây lan nhanh chóng, mà còn là sự "ngụy trang" hoàn hảo của các triệu chứng khởi phát. Sốt nhẹ, mệt mỏi, đau họng… - tất cả như những dấu hiệu cảm cúm thông thường, nhưng chỉ trong vòng vài giờ đến một ngày, bệnh có thể tiến triển cực nhanh thành viêm màng não, nhiễm trùng huyết, thậm chí tử vong! Ngay cả khi may mắn sống sót nhờ điều trị tích cực, "bóng ma" hậu quả vẫn đeo bám người bệnh suốt đời với những di chứng nặng nề như: tổn thương thần kinh vĩnh viễn, giảm thính lực, hoại tử chi dẫn đến đoạn chi…
Cũng tại hội thảo, các chuyên gia đã chỉ ra một thực tế đáng báo động: Việt Nam hiện đang lưu hành đồng thời các nhóm huyết thanh gây bệnh (A, C, Y và W) - trong đó, chủng W và C có độc lực đặc biệt cao, liên quan trực tiếp đến tỷ lệ tử vong. Trước tình hình dịch bệnh hiện tại, các chuyên gia nhấn mạnh rằng: Việc dự phòng bệnh nên đi theo chiến lược Bảo vệ rộng - tức là bao phủ đủ các nhóm huyết thanh quan trọng này để tạo hàng rào phòng thủ không kẽ hở.
Theo đánh giá của các chuyên gia, đây là giải pháp đáng được trông đợi vì nhiều ưu điểm vượt trội:
1. Bảo vệ mọi thế hệ trong gia đình, từ trẻ nhỏ tuổi đến người lớn
Khác với các loại vắc xin não mô cầu trước đây thường giới hạn độ tuổi tiêm đến 55 tuổi, hiện nay vắc xin phòng 4 nhóm não mô cầu A, C, Y, W đã được Bộ Y tế Việt Nam mở rộng chỉ định mang đến sự bảo vệ sớm và quan trọng, lấp đầy khoảng trống miễn dịch ở trẻ nhỏ.
2. Trong 1 mũi tiêm - Phòng được 4 chủng huyết thanh thường gặp và nguy hiểm ở Việt Nam (A, C, Y, W)
Vắc xin phòng 4 nhóm não mô cầu A, C, Y, W giúp đáp ứng miễn dịch mạnh mẽ và bền vững, đồng thời giảm khả năng lưu trú của vi khuẩn tại vòm họng, từ đó giảm tỷ lệ người lành mang trùng, góp phần cắt đứt chuỗi lây truyền trong cộng đồng. Chuyên gia cũng nhận định, loại này có khả năng duy trì hiệu quả miễn dịch từ 5 đến 10 năm.
3. Bảo đảm an toàn khi tiêm đồng thời với các loại vắc xin khác
Vắc xin phòng 4 nhóm não mô cầu A, C, Y, W vẫn duy trì tính sinh miễn dịch tốt và hồ sơ an toàn thuận lợi ngay cả khi sử dụng đồng thời với các vắc xin thường quy khác.
4. Lịch tiêm đơn giản, tối ưu hóa thời gian và chi phí
Thêm một ưu điểm của vắc xin là có thể giúp tạo đáp ứng miễn dịch mạnh cho trẻ. Điều này giúp đơn giản hóa lịch tiêm chủng, phụ huynh tiết kiệm thời gian và chi phí nhưng vẫn đảm bảo con được bảo vệ đầy đủ trước viêm não mô cầu.
Việc chủ động dự phòng viêm não mô cầu bằng vắc xin không chỉ là giải pháp y tế tối ưu mà còn là chiến lược bảo vệ sức khỏe đa thế hệ, thiết lập lá chắn miễn dịch vững chắc, cắt đứt chuỗi lây nhiễm trong cộng đồng, hướng tới tương lai nơi mọi người dân đều khỏe mạnh, bình an và vui sống!

Tôi 45 tuổi, bị đau dạ dày nhiều năm và từng nhiễm vi khuẩn HP. Gần đây tôi thường buồn nôn, chán ăn và đi ngoài phân đen nên rất lo lắng không biết đây có phải dấu hiệu ung thư dạ dày hay không?
(Tuấn Minh - Thái Nguyên)
ThS.BS Nguyễn Thế Phương, Trung tâm Tiêu hóa - Gan mật, Bệnh viện Bạch Mai trả lời:
Những triệu chứng của bác cho thấy dạ dày đang có tổn thương kéo dài và có thể được xem là bệnh lý mạn tính.
Tuy nhiên, để khẳng định có nguy cơ ung thư dạ dày hay không thì cần thăm khám và làm các xét nghiệm chuyên sâu.
Trên thực tế, ung thư dạ dày ở giai đoạn sớm thường không có triệu chứng đặc hiệu. Các biểu hiện ban đầu nhiều khi chỉ giống viêm dạ dày mạn tính hoặc loét dạ dày thông thường như đau âm ỉ vùng thượng vị, đầy bụng, buồn nôn hay chán ăn.
Riêng tình trạng đi ngoài phân đen là dấu hiệu cần đặc biệt lưu ý vì có thể liên quan đến xuất huyết tiêu hóa.
Vì vậy, bác nên đi nội soi dạ dày càng sớm càng tốt, đặc biệt tại các cơ sở chuyên sâu có hệ thống máy móc hiện đại và bác sĩ có nhiều kinh nghiệm.
Thông qua nội soi, bác sĩ có thể đánh giá chính xác tổn thương, phát hiện sớm bất thường nếu có và giúp người bệnh yên tâm hơn khi kết quả nằm trong giới hạn bình thường.
Việt Nam thuộc nhóm quốc gia có tỷ lệ mắc ung thư dạ dày ở mức trung bình cao trong khu vực Đông Nam Á. Bên cạnh yếu tố vi khuẩn Helicobacter pylori (HP), chế độ ăn uống và lối sống đóng vai trò đặc biệt quan trọng.
HP được Tổ chức Y tế Thế giới xếp vào nhóm tác nhân gây ung thư nhóm 1 đối với dạ dày. Vi khuẩn này gây viêm dạ dày mạn tính kéo dài. Theo thời gian, quá trình viêm có thể dẫn đến teo niêm mạc, dị sản ruột, loạn sản và cuối cùng là ung thư biểu mô tuyến.
Tuy nhiên, không phải mọi người nhiễm HP đều tiến triển thành ung thư. Nguy cơ gia tăng khi có sự kết hợp của nhiều yếu tố khác, đặc biệt là thói quen ăn uống.
Chế độ ăn nhiều muối là một yếu tố nguy cơ quan trọng. Thực phẩm ướp muối, lên men, xông khói, thịt cá muối, dưa muối, thực phẩm chứa nitrit và nitrosamine có liên quan đến tăng nguy cơ ung thư dạ dày.
Trong văn hóa ẩm thực Việt Nam, ăn mặn và sử dụng các món muối chua là thói quen phổ biến. Nhiều gia đình thường xuyên dùng dưa muối, cà muối, cá khô, thịt ướp mặn, đồ hun khói hoặc đồ nướng cháy cạnh. Khi sử dụng kéo dài, các yếu tố này có thể gây tổn thương niêm mạc dạ dày và làm tăng nguy cơ hình thành tế bào ác tính.
Bên cạnh đó, chế độ ăn ít rau xanh và trái cây tươi cũng là vấn đề đáng lưu ý. Rau quả chứa nhiều chất chống oxy hóa, vitamin và chất xơ có vai trò bảo vệ niêm mạc tiêu hóa. Việc thiếu hụt những thành phần này làm giảm khả năng bảo vệ tự nhiên của cơ thể
Hút thuốc lá là một yếu tố nguy cơ độc lập. Người đang hút thuốc có nguy cơ ung thư dạ dày cao hơn khoảng 30% đến 50% so với người không hút. Rượu bia sử dụng nhiều cũng góp phần làm tăng nguy cơ, đặc biệt khi đi kèm hút thuốc và nhiễm HP.
Ngoài ra, béo phì, hội chứng chuyển hóa và trào ngược dạ dày thực quản được ghi nhận liên quan nhiều hơn đến ung thư vùng tâm vị (vị trí nối giữa thực quản và dạ dày).
Tin Gốc: Dân Trí
Sức Khỏe
Chuyên gia chia sẻ kinh nghiệm chuẩn hóa chất lượng mô hình y học gia đình

Ngày 19.5, Trường đại học Y - Dược, Đại học Huế tổ chức hội nghị quốc tế "Chuẩn hóa chất lượng và nâng cao năng lực trong thực hành chăm sóc ban đầu và y học gia đình". Hội nghị kéo dài 2 ngày, nhằm thúc đẩy mô hình chăm sóc liên tục, quản lý sức khỏe toàn dân và nâng cao năng lực hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu và y học gia đình trong giai đoạn mới.
Đây cũng là sự kiện hưởng ứng Ngày bác sĩ gia đình thế giới 19.5 với chủ đề được phát động "Chăm sóc lấy con người làm trung tâm trong thời đại số".
Tham dự hội nghị có đại diện Bộ Y tế, các sở y tế, trường đại học y dược, chuyên gia trong nước; hơn 200 đại biểu đến từ các trạm y tế xã phường, bệnh viện và trung tâm y tế ở khu vực miền Trung - Tây nguyên; Hội Bác sĩ gia đình Việt Nam, Hội Tim mạch học Việt Nam, Hội Phụ sản Việt Nam, Hội Hô hấp Việt Nam; các chuyên gia quốc tế đến từ Cơ quan dịch vụ y tế quốc gia Vương quốc Anh (NHS)...
Hội nghị diễn ra trong bối cảnh ngành y tế đang thúc đẩy nhiều định hướng chính sách quan trọng nhằm củng cố y tế cơ sở và tăng cường chăm sóc sức khỏe ban đầu để thực hiện các mục tiêu sức khỏe đến năm 2035 theo tinh thần Nghị quyết số 72-NQ/TW, Chỉ thị số 17/CT-TTg và các định hướng của Chương trình mục tiêu quốc gia về y tế giai đoạn 2026 - 2035.
GS-TS Nguyễn Vũ Quốc Huy, Hiệu trưởng Trường đại học Y - Dược, Đại học Huế, Phó chủ tịch Hội Giáo dục y học Việt Nam, phát biểu khai mạc nhấn mạnh việc phát triển chăm sóc sức khỏe ban đầu hiện nay không chỉ là yêu cầu chuyên môn của ngành y tế mà còn là cơ sở quan trọng để triển khai hiệu quả các chính sách quản lý sức khỏe toàn dân trong giai đoạn mới.
Theo GS-TS Nguyễn Vũ Quốc Huy, trọng tâm hiện nay không chỉ là tăng cường cơ sở vật chất và trang thiết bị, mà là nâng cao năng lực vận hành của hệ thống: từ đào tạo nhân lực, chuẩn hóa chất lượng thực hành, quản trị dữ liệu đến tăng cường phối hợp đa ngành và tổ chức chăm sóc tích hợp giữa các tuyến.
Ông Vincent Sai (University College London) cũng chia sẻ rằng, xây dựng dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu hiệu quả cần chuyển từ mô hình điều trị thụ động sang quản lý sức khỏe chủ động, phát hiện sớm và chăm sóc liên tục tại cộng đồng. Việc phân tầng nguy cơ, quản lý bệnh mạn tính và chuẩn hóa quy trình chăm sóc sẽ giúp giảm tình trạng nhập viện không cần thiết, tối ưu chi phí.
Các báo cáo khác tập trung vào những vấn đề sức khỏe nổi bật hiện nay như: dự phòng đột quỵ, quản lý bệnh không lây nhiễm, phát hiện sớm ung thư, dự phòng HPV, chăm sóc người cao tuổi...
PGS-TS Nguyễn Minh Tâm, Trường đại học Y - Dược, Đại học Huế, Phó chủ tịch Hội Bác sĩ gia đình Việt Nam, cho biết những năm gần đây, mạng lưới các bộ môn y học gia đình, các đơn vị đào tạo và Hội Bác sĩ gia đình Việt Nam đã duy trì sự phối hợp trong đào tạo, thực hành và hỗ trợ chuyên môn cho y tế cơ sở tại nhiều địa phương.
Trong đó, có đào tạo bác sĩ y học gia đình, hỗ trợ chuyên môn cho y tế cơ sở, phát triển phòng khám bác sĩ gia đình, triển khai các mô hình quản lý bệnh không lây nhiễm và chăm sóc liên tục tại cộng đồng... Những hoạt động đang cho thấy vai trò ngày càng rõ nét của y học gia đình trong các định hướng đổi mới hệ thống y tế và chăm sóc sức khỏe ban đầu tại Việt Nam.
Trong khuôn khổ hội nghị, Trường đại học Y - Dược, Đại học Huế tiếp tục triển khai chương trình hỗ trợ tăng cường năng lực cho các trạm y tế và phòng khám bác sĩ gia đình tại khu vực miền Trung - Tây nguyên trong quản lý tăng huyết áp và bệnh phổi mạn tính, hỗ trợ thiết bị theo dõi huyết áp và hô hấp ký; đào tạo, cấp chứng chỉ kỹ thuật đo và phân tích kết quả hô hấp ký cho cán bộ y tế tuyến cơ sở nhằm tăng cường năng lực phát hiện sớm và quản lý bệnh tim mạch, bệnh phổi mạn tính tại cộng đồng.
Hoạt động này tiếp nối chương trình hỗ trợ nâng cao năng lực y tế cơ sở mà Phòng khám Bác sĩ gia đình, Trường đại học Y - Dược, Đại học Huế đã triển khai trong giai đoạn 2023 - 2025 với gần 2.000 máy đo huyết áp và ứng dụng theo dõi huyết áp tại nhà (hỗ trợ cho các trạm y tế và người dân). Trong năm 2026, khoảng 600 trạm y tế xã, phường tại 9 tỉnh miền Trung - Tây nguyên sẽ tiếp tục được hỗ trợ thiết bị nhằm tăng cường năng lực quản lý bệnh không lây nhiễm tại tuyến chăm sóc ban đầu.
Tại hội nghị, đại diện Cục Khoa học công nghệ và đào tạo (Bộ Y tế) cập nhật các định hướng trọng tâm trong triển khai khám sức khỏe định kỳ, quản lý sức khỏe toàn dân và củng cố y tế cơ sở giai đoạn 2026 - 2035.
Tin Gốc: Thanh Niên

