“Tôi may mắn hơn nhiều người khi không phải quá áp lực chuyện nhà cửa lúc mới vào đời, vì trước đó ba mẹ đã lo cho tôi một chỗ ở ổn định tại TP HCM. Nhưng ngay từ khi đi làm, tôi vẫn luôn có thói quen tiết kiệm. Tôi còn nhớ cuốn sổ tiết kiệm đầu tiên của mình chỉ có đúng 270.000 đồng. Đó là số tiền còn dư lại sau tháng lương đầu tiên, khi tôi đã chi trả tiền ăn uống và những khoản cơ bản cần thiết. Thấy còn lại chút ít, tôi đem ra ngân hàng gửi tiết kiệm.
Bạn bè tôi lúc đó nghe ai cũng bật cười vì số tiền quá nhỏ. Tôi cũng chỉ cười trừ, không giải thích gì. Nhưng từ đó trở đi, tháng nào tôi cũng đều đặn bỏ thêm tiền vào sổ, bất kể ít hay nhiều. Có bao nhiêu tôi để dành bấy nhiêu, từ tiền lương còn dư, tiền làm thêm, đến tiền được cho… Tôi không bao giờ nghĩ số tiền ít là vô nghĩa.
Nhiều người có quan điểm rằng thu nhập thấp thì tiết kiệm cũng chẳng đáng bao nhiêu, thà tiêu cho thoải mái còn hơn. Nhưng tôi lại nghĩ khác. Với tôi, một đồng cũng quý. Nếu chưa cần dùng đến thì vài nghìn đồng tiền lẻ tôi cũng vuốt phẳng rồi cất lại. Nhà tôi đến giờ vẫn có một chiếc hộp đựng tiền lẻ để dành cho những khoản chi nhỏ như gửi xe.
Có lẽ vì giữ thói quen đó quá lâu nên tôi luôn tin rằng tiền không bao giờ là dư. Tiền tiết kiệm không chỉ để phòng khi khó khăn mà còn là nền tảng cho tương lai của mình và cả con cháu sau này.
>> Tôi không tiết kiệm khi lương dưới 20 triệu
Năm 2020, khi thấy người ta bán một lô đất vùng ven thành phố, tôi nhận ra số tiền trong sổ tiết kiệm của mình đã gần đủ, khoảng 2/3 giá trị lô đất. Tôi quyết định lấy thêm phần còn thiếu từ khoản tiền thừa kế ba để lại và mua đất ngay.
Sau khi mua xong, tôi lại mở một sổ tiết kiệm khác và tiếp tục tích góp từ con số 0 như trước. Khi để dành đủ số tiền đã lấy từ khoản thừa kế, tôi hoàn trả lại đúng phần đó. Dù đều là tiền của mình, tôi vẫn luôn muốn phân định rạch ròi giữa tiền tự làm ra và tiền được cho hoặc thừa hưởng.
Trong khi đó, tôi có hai người bạn thân. Hồi mới ra trường, lương của họ đều cao hơn tôi. Nhưng cả hai đều có chung suy nghĩ: “Lương kiểu này tiết kiệm biết bao giờ mới đủ mua nhà, thôi cứ tận hưởng cuộc sống đi”. Họ chi tiêu thoải mái, đi đây đi đó, trải nghiệm đủ thứ. Còn tôi chỉ giữ mức sống vừa đủ với nhu cầu bản thân, phần còn lại đều để dành, dù chỉ vài trăm nghìn cũng mang đi gửi tiết kiệm.
Đến khi tôi mua lô đất đầu tiên, hai người còn cười, nói: “Đất vùng ven mua làm gì cho xa xôi, cực khổ”. Nhưng rồi tôi tiếp tục mua thêm những lô khác. Sau này, tôi bán vài lô nhỏ để gom thành một lô lớn hơn ở mặt tiền, rồi lại tiếp tục tìm cơ hội mới. Khi đó, một người bạn mới nói với người còn lại: “Ủa, tính ra lương nó đâu có bằng mình, sao nó mua đất được vậy?”.
Rồi họ bắt đầu tìm hiểu chuyện mua đất. Nhưng lúc ấy giá đã khác trước rất nhiều. Trong khi đó, thói quen chi tiêu hưởng thụ vẫn không thay đổi nên họ cũng không để dành được bao nhiêu. Đến bây giờ, một người vẫn ở nhà thuê, người còn lại đang góp mua một căn chung cư nhỏ.
Tôi kể câu chuyện này không phải để khoe mình giỏi giang hay chê trách bạn bè, bởi mỗi người đều có cách sống riêng. Tôi chỉ muốn nói rằng tiết kiệm chưa bao giờ là điều thừa thãi. Nhiều người nghĩ phải có khoản tiền lớn mới đáng để dành, nhưng theo tôi, chính những khoản nhỏ được tích lũy đều đặn mới tạo nên khác biệt theo thời gian. Dù sau này không mua được nhà hay đất, thì ít nhất khoản tiền tiết kiệm đó cũng có thể giúp mình vượt qua lúc khó khăn, thay vì rơi vào cảnh bất lực khi biến cố xảy ra”.
Đó là chia sẻ của độc giả Minh Phương về câu chuyện tiết kiệm và tích lũy tài sản khi thu nhập chưa cao. Trong bối cảnh chi phí sinh hoạt ngày càng tăng, câu chuyện “để dành được bao nhiêu hay bấy nhiêu” đang nhận nhiều tranh luận trái chiều từ người trẻ. Không ít người cho rằng với mức thu nhập hiện nay, tiết kiệm là điều rất khó, thậm chí không đủ tạo khác biệt đáng kể.
Theo báo cáo của Bộ Nội vụ, thu nhập bình quân của người lao động năm 2025 đạt 8,31 triệu đồng mỗi tháng, tăng 756.000 đồng so với năm trước. Trong khi đó, khảo sát mức sống dân cư của Tổng cục Thống kê cho thấy phần lớn thu nhập của các hộ gia đình vẫn tập trung cho những khoản chi thiết yếu như ăn uống, nhà ở, điện nước, giáo dục và đi lại. Điều đó khiến không ít người cho rằng mức lương hiện nay khó giúp tích lũy đáng kể nếu chỉ tiết kiệm từng khoản nhỏ.
Rất nhiều lần, tôi đi ăn hàng quán, gặp phải tình huống oái ăm, gây linh cảm không tốt về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm nhưng không biết phải làm sao. Trộm vía, có lẽ hệ tiêu hóa của tôi tốt, nên chưa xảy ra sự cố nào trong hơn chục năm chinh chiến khắp các hàng quán.
Tôi sợ nhất là trong quán có thú cưng chó, mèo của chủ. Có lần tôi tận mắt chứng kiến bà chủ quán sau khi bưng tô bún bò cho tôi, sau khi tháo cái găng tay nylon đã nhàu nhĩ, không biết đã dùng bao nhiêu lượt rồi, đã cúi người xuống bế con chó vào lòng.
Quy định về việc chủ quán phải đảm bảo vệ sinh khi chế biến thực phẩm thì ai cũng biết. Nhưng thực tế, nhiều người vẫn bóc tay trần cho đỡ vướng víu. Găng tay, nếu có, đôi khi chỉ mang tính đối phó, dùng đi dùng lại, thậm chí còn bẩn hơn cả tay không.
Đã có ai thực sự bị nhắc nhở, bị xử phạt nghiêm túc vì những vi phạm kiểu này chưa?
Thứ nữa là chuyện cầm tiền mặt. Một tay thối tiền, một tay bốc đồ ăn, chuyện quá quen thuộc. Có người vừa lau bàn xong, khăn còn ướt và đen, đã quay sang cắt thịt, chan nước dùng.
Nếu là món cơm, đến lúc đem chén canh ra cho khách, tôi sợ nhất là cảnh người phục vụ vô thức chạm ngón tay vào miệng chén. Những chi tiết nhỏ như vậy, nhưng đủ để khiến thực khách mất đi cảm giác ngon miệng.
Những rổ rau sống nhìn qua thì có vẻ xanh tươi, nhưng cách bảo quản thì khó mà yên tâm. Rau được để chồng lên nhau, rau thừa của khách trước chưa chắc đã bị bỏ đi. Khách sau đến, lại tiếp tục được bổ sung vào rổ cũ.
Điều đáng nói là, không phải chủ quán nào cũng vô ý thức. Rất nhiều người làm ăn tử tế, giữ gìn vệ sinh cẩn thận, coi uy tín là tài sản lớn nhất. Nhưng chính sự tồn tại của những quán làm ẩu, làm đối phó lại đang kéo mặt bằng chung đi xuống, khiến niềm tin của thực khách bị bào mòn.
Về những hàng quán không nghiêm túc về vấn đề vệ sinh, vấn đề nằm ở chỗ chúng ta đang quá dễ dãi với những tiêu chuẩn tối thiểu liên quan trực tiếp đến sức khỏe của chính mình.
Tôi cũng như vậy vì: Chẳng lẽ vào quán ăn, gọi món rồi nhìn họ chế biến lại kêu thôi, đừng làm nữa?
Tôi không biết từ bao giờ, chúng ta có lệ là người đi xa, đi chơi từ đâu về là phải có quà. Nếu như đi núi mua mật ong, thịt gác bếp... để lâu được thì không nói làm gì.
Như gia đình tôi mới đây, sau khi tắm biển và ăn uống thỏa thích, vợ tôi đi dạo một vòng mua về một thùng hải sản tươi ướp đá lạnh gần 5 triệu đồng. Đi xe khách nên khệ nệ khiêng, bất tiện. Mà đi ôtô tự lái thì có khi chật chội vì còn phải để valy và đồ đạc khác.
Về đến nhà chưa kịp soạn quần áo cũ ra giặt thì phải chia phần vì sợ để lâu mất tươi. Khi đem qua cho bà chị, bà chị hỏi bao nhiêu tiền một kg thì than trời vì cái đại lý hải sản kế bên nhà chị bán rẻ hơn 50 nghìn một kg. Vợ tôi chậc lưỡi, thôi kệ. Quan trọng hơn là hải sản mua về ướp đá ăn không ngon như ở biển. Cảm quan chung của vợ chồng tôi là vậy.
Không bàn đến chuyện mua hớ vài chục nghìn một kg hay mất công xách nặng. Điều khiến tôi suy nghĩ nhiều hơn là áp lực vô hình: Đi đâu về cũng phải có cái gì đó ra trò để biếu.
Nếu không sẽ ngại với người thân, ngại với bạn bè, thậm chí ngại với chính mình sợ rằng chuyến đi sẽ bị đánh giá là đi mà không biết mang cái gì về.
Thói quen đi đâu cũng phải có quà đem về còn vô tình biến du lịch, vốn là để nghỉ ngơi, trải nghiệm thành một chuỗi nhiệm vụ. Đi chơi nhưng trong đầu luôn có một checklist: Mua gì cho nhà nội, mua gì cho nhà ngoại, mua gì cho đồng nghiệp. Kết quả là thay vì tận hưởng trọn vẹn, ta dành thời gian để lo nghĩ vì những điều đó.
Sau lần đó, tôi tự đặt ra một nguyên tắc khi đi xa: Chỉ mua khi thật sự muốn mua, và món quà phải có ý nghĩa với cả người cho lẫn người nhận. Nếu không, tôi chọn không mua gì cả.
Gần đây, tôi đọc tin TP HCM thưởng từ 3 đến 5 triệu đồng cho phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi. Tôi đem chuyện này kể lại với con dâu, hy vọng đó sẽ là một động lực nào đó. Nhưng con chỉ nói: "Số tiền đó mang ý nghĩa tượng trưng thôi mẹ ạ, không đủ để bọn con sinh thêm đâu".
Tôi năm nay đã lên chức bà nội được 12 năm. Tưởng rằng sau khi có cháu đầu lòng, vợ chồng con trai tôi sẽ sớm có thêm đứa thứ hai, nhưng gần 10 năm qua, điều đó vẫn chưa xảy ra, dù tôi đã nhiều lần khuyên nhủ, động viên.
Vợ chồng con tôi hiện chỉ có một bé trai. Cháu đã 12 tuổi, ngoan ngoãn, học hành ổn định. Nhiều lần, tôi nhẹ nhàng gợi ý con dâu sinh thêm, phần vì muốn cháu có anh có em, phần vì tôi nghĩ gia đình đông con vẫn ấm áp hơn. Nhưng lần nào cũng vậy, con dâu tôi chỉ cười trừ: "Ở tuổi này mà nghỉ sinh, con dễ mất việc lắm mẹ. Mà phụ nữ có con nhỏ thì chẳng chỗ nào muốn nhận cả".
Con dâu tôi làm nhân viên văn phòng ở TP HCM, công việc không phải quá áp lực nhưng cũng không hề dễ thay thế. Ở môi trường cạnh tranh như hiện nay, phụ nữ nghỉ sinh dài ngày đồng nghĩa với việc tự đặt mình vào thế rủi ro. Chưa kể, sau một thời gian gián đoạn, việc quay lại guồng công việc cũng không hề đơn giản. Thế nên, nghe con nói "thưởng 3-5 triệu chẳng thấm vào đâu", tôi cũng chẳng biết làm gì.
>> Ba năm đấu tranh sinh hai con dù chồng sợ không nuôi nổi
Không chỉ là chuyện công việc, chi phí nuôi dạy một đứa trẻ ở thành phố hiện nay cũng thực sự khiến các con tôi chùn bước khi nhắc đến chuyện sinh thêm con. Vợ chồng con tôi có tổng thu nhập khoảng 35 triệu đồng mỗi tháng, không phải thấp, nhưng cũng chỉ đủ trang trải cuộc sống, nuôi một đứa con và để dành một khoản nhỏ phòng khi ốm đau, biến cố. Nếu sinh thêm, mọi thứ chắc chắn sẽ bị xáo trộn.
Tôi hiểu nỗi lo về mức sinh đang giảm, về tương lai nguồn nhân lực của đất nước. Nhưng đứng từ phía con cái mình, tôi cũng thấy rõ những áp lực rất cụ thể mà chúng đang phải đối mặt. Sinh thêm một đứa trẻ không chỉ là câu chuyện của vài triệu đồng hỗ trợ ban đầu, mà là hành trình dài hàng chục năm với vô vàn chi phí và trách nhiệm.
Tôi nghĩ nếu muốn khuyến khích người trẻ sinh con, chính sách cần đi xa hơn những khoản thưởng mang tính động viên. Điều người trẻ cần là sự yên tâm lâu dài: chi phí giáo dục hợp lý, dịch vụ y tế đảm bảo. Sự hỗ trợ cũng cần đồng hành cùng đứa trẻ từ khi chưa chào đời cho đến lúc trưởng thành. Ngoài ra, môi trường làm việc cũng phải không khiến phụ nữ bị thiệt thòi khi sinh con.
Còn với riêng tôi, sau nhiều năm khuyên con không thành, mong muốn có thêm cháu vẫn còn đó, nhưng tôi hiểu quyết định cuối cùng phải là của các con - những người trực tiếp nuôi dạy và chịu trách nhiệm cho tương lai của đứa trẻ. Mà muốn thay đổi được suy nghĩ của chúng, có lẽ cần nhiều hơn là 5 triệu tiền thưởng.