Chiều 26/6, Bộ Tài chính tổ chức Hội nghị triển khai Nghị quyết số 31 về cơ chế, chính sách đặc thù nhằm đẩy nhanh tiến độ xử lý, khai thác nhà, đất dôi dư sau khi sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính.
Theo tổng hợp báo cáo của các Bộ, ngành, địa phương thì hiện nay còn khoảng 11.000 cơ sở nhà, đất dôi dư đã được thu hồi hoặc chuyển giao về địa phương quản lý, xử lý nhưng chưa hoàn thành xử lý bước 2 để đưa vào khai thác hoặc xử lý triệt để.
Việc khai thác, xử lý các cơ sở nhà, đất này đang gặp nhiều khó khăn do số lượng lớn, phân tán trên phạm vi cả nước, nhiều cơ sở có quy mô nhỏ lẻ, nằm ở vùng sâu, vùng xa, khu vực có nhu cầu thị trường thấp; nhiều trường hợp hồ sơ pháp lý chưa đầy đủ, bị thất lạc hoặc đang có tranh chấp, lấn chiếm.
Nếu thực hiện theo quy trình thông thường quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành sẽ khó đáp ứng yêu cầu xử lý nhanh, triệt để theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nêu trên, Bộ Tài chính đã chủ trì xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị quyết số 31 ngày 24/6/2026 về các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm đẩy nhanh tiến độ xử lý, khai thác nhà, đất dôi dư sau sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính.
Nghị quyết được ban hành với mục tiêu trọng tâm là đẩy nhanh tiến độ xử lý, khai thác các cơ sở nhà, đất dôi dư; sớm đưa các tài sản này vào sử dụng, khai thác hiệu quả; hạn chế tối đa tình trạng bỏ trống, xuống cấp, thất thoát và lãng phí tài sản công.
Nghị quyết quy định một số cơ chế, chính sách đặc thù nhằm đẩy nhanh tiến độ xử lý, khai thác nhà, đất dôi dư sau khi sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính (bao gồm sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và sắp xếp đơn vị hành chính theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp).
Gồm: Quản lý, khai thác nhà, đất dôi dư mà cơ quan, người có thẩm quyền có Quyết định giao, điều chuyển, chuyển giao cho tổ chức quản lý, kinh doanh nhà kể từ ngày 1/3/2025 và chưa đưa vào khai thác.
Xử lý nhà, đất dôi dư sau khi sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính (bao gồm cả nhà, đất đơn vị không còn nhu cầu sử dụng trước thời điểm sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính và sau thời điểm sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính vẫn tiếp tục xác định là dôi dư).
Nghị quyết đã phân quyền cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh được toàn quyền quyết định việc quản lý, khai thác các cơ sở nhà, đất dôi dư và các cơ sở nhà, đất dôi dư giao cho tổ chức quản lý, kinh doanh nhà của địa phương quản lý, khai thác, kể cả các cơ sở nhà, đất do các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc trung ương quản lý nhưng đã chuyển giao cho địa phương quản lý, xử lý hoặc địa phương thu hồi, đảm bảo lợi ích tổng thể kinh tế, xã hội của địa phương; kiểm soát chặt chẽ các yếu tố ảnh hưởng tới quốc phòng, an ninh quốc gia, môi trường.
Được điều chỉnh các quyết định giao, điều chuyển, chuyển giao nhà, đất để phù hợp với thực tiễn; Quyết định định mức chi hoạt động phục vụ cho tổ chức quản lý, kinh doanh nhà theo tỉ lệ % trên tổng số tiền thu được từ khai thác nhà, đất.
Đồng thời, phân quyền cho thủ trưởng tổ chức quản lý, kinh doanh nhà và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phê duyệt đơn giá cho thuê nhà (thay cho việc phải thuê thẩm định giá, trình UBND cấp tỉnh ban hành Bảng giá cho thuê nhà).
Việc phân cấp, phân quyền mạnh mẽ này sẽ giúp rút ngắn quy trình xử lý, phát huy tính chủ động của địa phương, giảm các khâu trung gian trong quá trình thực hiện.
Nghị quyết đã cắt giảm một số thủ tục hành chính so với quy trình thông thường để góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện xử lý, khai thác nhà, đất dôi dư.
Theo đó, tổ chức quản lý, kinh doanh nhà được chủ động xây dựng phương án quản lý, khai thác nhà, đất được giao quản lý, khai thác mà không phải thực hiện quy trình lập, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh điều chỉnh, bổ sung kế hoạch quản lý, khai thác như quy định hiện hành.
Đối với các cơ sở nhà, đất đã có quyết định chuyển giao về địa phương và giao cho tổ chức quản lý, kinh doanh nhà tiếp nhận thì không phải thực hiện thêm thủ tục giao tài sản một lần nữa.
Nghị quyết cũng cắt giảm thủ tục xây dựng bảng giá cho thuê nhà và thay thế bằng cơ chế xác định đơn giá cho thuê nhà theo công thức thống nhất, minh bạch, dễ áp dụng, giảm chi phí thuê tư vấn thẩm định giá và rút ngắn đáng kể thời gian đưa tài sản vào khai thác.
Ngoài ra, thủ tục lấy ý kiến của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trước khi thực hiện chuyển giao các cơ sở nhà, đất dôi dư, không có nhu cầu sử dụng của trung ương về địa phương quản lý, xử lý cũng được cắt giảm nhằm đẩy nhanh tiến độ xử lý.
Một điểm mới quan trọng của Nghị quyết là cho phép khai thác các cơ sở nhà, đất trong một số trường hợp đặc thù như chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc giấy chứng nhận bị thất lạc; cho phép khai thác đối với nhà, đất dôi dư mà không phải thực hiện điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, qua đó giúp tài sản sớm được đưa vào sử dụng.
Đối với các cơ sở nhà, đất dôi dư có vị trí phù hợp cho mục đích công cộng như công viên, sân chơi, thiết chế văn hóa hoặc phục vụ đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, Nghị quyết cho phép phá dỡ công trình hiện hữu không còn phù hợp để thực hiện phương án sử dụng mới.
Điều chỉnh cơ chế xử lý đối với tài sản gắn liền với đất khi thực hiện giao đất, cho thuê đất nhằm tạo điều kiện thu hút tổ chức, cá nhân tham gia khai thác và sử dụng hiệu quả các khu đất dôi dư.
Theo đó, đối với trường hợp phá dỡ, hủy bỏ tài sản gắn liền với đất trước khi giao đất, cho thuê đất thì không phải hoàn trả giá trị của tài sản cho Nhà nước; đối với trường hợp không phá dỡ, hủy bỏ tài sản gắn liền với đất trước khi giao đất, cho thuê đất thì người được giao đất, cho thuê đất có nghĩa vụ hoàn trả giá trị còn lại của nhà, tài sản gắn liền với đất đang được theo dõi trên sổ kế toán.
Đồng thời, Nghị quyết cho phép thực hiện chuyển đổi công năng sử dụng nhà, đất trước và cập nhật, điều chỉnh quy hoạch sau khi thực hiện chuyển đổi công năng các cơ sở nhà, đất để làm trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp công lập, các mục đích công cộng, quốc phòng, an ninh.
Tại kỳ điều hành này, liên Bộ Công thương - Tài chính quyết định trích Quỹ Bình ổn giá xăng dầu ở mức 500 đồng/lít đối với xăng sinh học và 300 đồng/lít/kg đối với dầu diesel và dầu mazut; không chi quỹ đối với tất cả các mặt hàng xăng dầu.
Riêng giá cơ sở xăng E5 RON 92, sau khi thực hiện trích giữ 500 đồng, giảm 1.474 đồng/lít so với giá bán tối đa được điều chỉnh từ đợt trước.
Ngay sau đó, các thương nhân đầu mối Petrolimex, PVOil, Petro Times... công bố giá bán lẻ xăng E10, áp dụng từ chiều nay (4.6).
Cụ thể, Petrolimex thông báo giá xăng sinh học E10 RON 95-V giảm 1.120 đồng về 23.230 đồng (thị trường vùng 1) và xăng E10 RON 95-III giảm 1.330 đồng về 22.330 đồng/lít.
PVOil công bố giá xăng E10 RON 95-III giảm 1.330 đồng về 22.330 đồng/lít.
Petro Times công bố giá xăng E10 mới tại thị trường vùng 2 (xa cảng, xa kho, xa nhà máy...): Xăng E5 RON 92-II giảm 1.500 đồng về 22.210 đồng/lít, xăng E10 RON 95-III giảm 1.360 đồng về 22.770 đồng/lít, xăng E10 RON 95-V giảm 1.140 đồng về 23.690 đồng/lít.
Trên thị trường, hiện có 3 doanh nghiệp đã được cấp phép phối trộn xăng sinh học E10 với tổng công suất khoảng 900.000 m3/tháng, gồm Petrolimex, PVOil và Saigon Petro. Với nhu cầu thị trường tiêu thụ xăng khoảng 1 triệu m 3 /tháng thì năng lực phối trộn của 3 đơn vị đã được cấp phép này đang chiếm 89% lượng xăng E10 cung cấp trong nước.
Ngoài ra, có 10 doanh nghiệp đang chờ được cấp giấy phép để pha chế, phối trộn xăng E10 bao gồm: Tổng công ty Thanh Lễ khoảng 70.000 m3/tháng; Công ty CP Tập đoàn Anh Phát Group khoảng 70.000 m3/tháng; Công ty TNHH MTV - Tổng công ty Xăng dầu quân đội khoảng 40.000 m3/tháng; Công ty Hải Linh khoảng 40.000; Công ty CP thương mại dầu khí Đồng Tháp (Petimex) khoảng 30.000 m3/tháng; Công ty TNHH thương mại dịch vụ Hòa Khánh 15.600 m3/tháng; Công ty Giang Nam 15.000 m3/tháng; Công ty Hải Dương 10.000 m3/tháng; Công ty Petro Bình Minh 5.000 m3/tháng; Công ty CP đầu tư Nam Phúc khoảng 2.000 m3/tháng,
Tổng công suất phối trộn xăng E10 của 10 doanh nghiệp này ước khoảng 297.600 m3/tháng. Do vậy, nếu thêm 10 doanh nghiệp trên được cấp phép pha chế, phối trộn thì công suất pha chế, phối trộn của cả 13 doanh nghiệp đạt khoảng 1.178.600 m3/tháng, vượt xa nhu cầu 1 triệu m3/tháng cho cung ứng xăng sinh học trên cả nước.
Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng vừa ký Chỉ thị số 27 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng và thúc đẩy giải ngân vốn ODA, vay ưu đãi nước ngoài năm 2026 và giai đoạn tiếp theo.
Theo số liệu báo cáo của Bộ Tài chính, đến hết ngày 15/6/2026, tỉ lệ giải ngân (theo hình thức ghi thu ghi chi) kế hoạch vốn đầu tư công nguồn nước ngoài năm 2026 trung bình cả nước mới chỉ đạt 9,99% kế hoạch vốn được giao (trong đó địa phương đạt 9,37% kế hoạch vốn, bộ ngành đạt 10,79% kế hoạch vốn), thấp hơn so với tỉ lệ giải ngân kế hoạch đầu tư công trong nước.
Tỉ lệ giải ngân cho vay lại của các địa phương mới chỉ đạt 8,98% kế hoạch vốn được giao Đáng lưu ý, một số bộ, cơ quan trung ương và địa phương được ghi nhận có tỉ lệ giải ngân là 0%.
Nhằm tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng và quyết tâm đẩy nhanh tiến độ giải ngân kế hoạch vốn nước ngoài năm 2026, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức 2 con số, Thủ tướng yêu cầu thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan khác ở Trung ương, Chủ tịch UBND các tỉnh các nhiệm vụ sau đây.
Theo đó, Thủ tướng yêu cầu kiên quyết không đề xuất, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt các khoản vay, phê duyệt các chương trình, dự án chưa thật sự cần thiết, hiệu quả thấp hoặc không rõ ràng, chưa bảo đảm tính khả thi, không phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch theo quy định của pháp luật, trùng lặp với các chương trình, dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, chưa xác định rõ tổng mức vốn vay nguồn vốn đối ứng hoặc có nguy cơ thất thoát, lãng phí nguồn lực Nhà nước.
Đặc biệt không để xảy ra tình trạng đăng ký nhu cầu vốn vượt quá khả năng hấp thụ vốn, bố trí vốn dàn trải hoặc đề xuất dự án không có khả năng hoàn thành theo tiến độ cam kết.
Đối với các dự án chuẩn bị ký kết hiệp định với các nhà tài trợ nước ngoài, phải chủ động rà soát kỹ tính cần thiết, hiệu quả đầu tư, tổng mức đầu tư, cơ cấu nguồn vốn, công nghệ, phương án vận hành, kiện toàn tổ chức.
"Kiên quyết không bố trí kế hoạch vốn nước ngoài hàng năm cho các dự án đầu tư không bảo đảm sẵn sàng giải ngân; không phê duyệt dự án mới đối với các cơ quan, đơn vị để xảy ra tình trạng chậm giải ngân kéo dài, thất thoát, lãng phí, tiêu cực nhưng không kịp thời khắc phục, xử lý theo quy định", Chỉ thị nêu rõ.
Chủ động xử lý ngay vướng mắc phát sinh theo thẩm quyền trong bối cảnh đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và tổ chức thi hành pháp luật tại địa phương; trường hợp vượt thẩm quyền, phải kịp thời báo cáo, đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý; không đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, không để ách tắc ảnh hưởng tiến độ giải ngân và hiệu quả dự án.
Chủ động phối hợp với Bộ Tài chính, các cơ quan tổng hợp và các nhà tài trợ để giải quyết các vướng mắc phát sinh, đặc biệt đối với các dự án có thay đổi, cần thiết phải điều chỉnh chủ trương đầu tư, điều chỉnh hiệp định vay.
Theo thông tin Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố sáng nay 3.6, trong tháng 5, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 0,29% so với tháng trước do giá điện, nước sinh hoạt tăng cùng với nhu cầu sử dụng cao trong thời tiết nắng nóng; giá vật liệu xây dựng, nhà ở thuê, giá xăng tăng.
Cụ thể, nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,96% (tác động làm tăng CPI chung 0,22 điểm phần trăm), chủ yếu tăng giá ở một số mặt hàng sau: giá thuê nhà tăng 0,71%; giá điện sinh hoạt tăng 2,38%; giá nước sinh hoạt tăng 1,41%...
Nhóm giao thông tăng 0,83% (tác động làm CPI chung tăng 0,08 điểm phần trăm), chủ yếu do: chỉ số giá xăng tăng 2,12%; phí học bằng lái xe tăng 0,82%...
Nếu so cùng kỳ năm trước, CPI tháng 5 tăng 5,60%, CPI 5 tháng đầu năm tăng 4,31%.
Lạm phát cơ bản tháng 5 tăng 0,34% so với tháng trước và tăng 4,67% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 5 tháng đầu năm, lạm phát cơ bản tăng 4,04% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 4,31% của CPI bình quân chung.
Lý do, giá xăng dầu, gas và thực phẩm biến động mạnh làm CPI chung tăng, trong khi các yếu tố này được loại trừ trong danh mục tính toán lạm phát cơ bản.
Ở khía cạnh tác động của các sự kiện tiêu cực đến đời sống trong 5 tháng đầu năm nay, Cục Thống kê cho biết, 35,3% hộ gia đình đánh giá đang phải chịu những ảnh hưởng do giá cả hàng hóa, dịch vụ tăng cao.
Về xuất, nhập khẩu hàng hóa, trong tháng 5, tổng kim ngạch đạt 99,07 tỉ USD, tăng 3,2% so với tháng trước và tăng 25,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng qua, con số này là 445,12 tỉ USD, tăng 25% so với cùng kỳ năm trước.
Tính riêng xuất khẩu, kim ngạch trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm là 46,93 tỉ USD và 215,66 tỉ USD, lần lượt tăng 18% và 19,5% so với cùng kỳ năm trước.
5 tháng qua, có 26 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỉ USD, chiếm 90,7% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 7 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỉ USD, chiếm 69,3%).
Ở chiều ngược lại, Việt Nam đã chi 52,14 tỉ USD để nhập khẩu hàng hóa trong tháng 5, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa 5 tháng đầu năm lên 229,46 tỉ USD, tăng 30,8% so với cùng kỳ năm trước. Hàng hóa nhập khẩu chủ yếu là nhóm hàng tư liệu sản xuất với 215,99 tỉ USD, chiếm 94,1%.
5 tháng qua, Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 69,6 tỉ USD. Xuất siêu sang Mỹ đạt 60,4 tỉ USD, tăng 21,1% so với cùng kỳ năm trước.
Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất từ Trung Quốc với kim ngạch đạt 92,6 tỉ USD trong 5 tháng. Nhập siêu từ thị trường này lên tới 62,5 tỉ USD, tăng 36,4%.
Theo số liệu sơ bộ, tháng 5, Việt Nam nhập siêu 5,21 tỉ USD, nâng tổng mức nhập siêu 5 tháng qua lên 13,8 tỉ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 5,1 tỉ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 20,76 tỉ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 6,96 tỉ USD.
Một số mặt hàng nhập siêu cao gồm: điện tử, máy tính và linh kiện nhập siêu 32 tỉ USD; xăng dầu nhập siêu 4,3 tỉ USD; chất dẻo nguyên liệu nhập siêu 4,1 tỉ USD; than các loại nhập siêu 3,6 tỉ USD; dầu thô nhập siêu 2,9 tỉ USD; hóa chất nhập siêu 2,7 tỉ USD.
Nhập siêu tăng mạnh, song nhiều chuyên gia kinh tế phân tích, phần lớn kim ngạch nhập khẩu gia tăng thuộc nhóm tư liệu sản xuất, là đầu vào cho sản xuất và xuất khẩu nên không quá đáng lo.
Dù vậy, theo TS Vũ Thị Kim Oanh, giảng viên cấp cao ngành kinh doanh quốc tế (Đại học RMIT Việt Nam), nếu tình trạng nhập siêu tiếp tục kéo dài, cũng như có sự thay đổi trong cấu trúc nhập khẩu (nhập khẩu của Việt Nam tăng vào nhóm tiêu dùng không thiết yếu, do chi phí logistics hay do giá nhiên liệu tăng...) thì phải lưu ý.
"Trong 2026, khả năng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam vẫn tăng, song xuất siêu sẽ khiêm tốn hơn năm 2025", bà Oanh dự báo.