Năm nay tôi 54 tuổi. Sau hơn 30 năm đi làm, dành dụm, chắt chiu từng khoản, tôi tích lũy được khoảng 3 tỷ đồng. Không phải con số quá lớn, nhưng tôi bắt đầu nghĩ đến chuyện nghỉ hưu sớm, khi bước qua tuổi 55 vào năm sau.
Tôi không mơ cuộc sống hưởng thụ xa hoa. Điều tôi muốn đơn giản là được nghỉ ngơi đúng lúc, giữ gìn sức khỏe, sống chậm lại sau nhiều năm chạy đua với công việc. Tôi từng chứng kiến không ít người quen đi trước, đến khi có tiền thì sức khỏe đã xuống dốc, bệnh tật bủa vây. Tôi sợ mình cũng sẽ như vậy. Tôi không muốn trở thành gánh nặng cho con cái khi về già.
Kế hoạch của tôi là sang năm, khi con trai tốt nghiệp đại học, tôi sẽ để nó tự lập. Tôi tin, đó là thời điểm phù hợp để con bắt đầu tự đứng trên đôi chân của mình. Còn tôi, sẽ khép lại hành trình kiếm tiền cật lực để chuyển sang hành trình chăm sóc bản thân.
Nhưng vợ tôi không nghĩ vậy. Vợ cho rằng tôi “vô tâm”, thậm chí “ích kỷ” khi chưa lo xong chỗ ở cho con đã vội nghĩ đến nghỉ ngơi. Vợ muốn tôi cố làm thêm chục năm nữa, tích góp đủ tiền mua cho con một căn nhà riêng, rồi khi ấy hai vợ chồng nghỉ cũng chưa muộn. Với cô ấy, có nhà cửa ổn định là nền tảng quan trọng nhất để con yên tâm lập nghiệp.
>> Sắm đủ nhà thừa kế cho hai con trai nhưng tôi không nghỉ hưu sớm
Tôi hiểu nỗi lo của vợ. Trong bối cảnh giá nhà ngày càng cao, việc sở hữu một căn nhà không dễ dàng. Nhưng tôi không nghĩ tài sản lớn nhất cha mẹ để lại cho con là một căn nhà. Với tôi, “di sản” quan trọng nhất là khả năng tự lập. Tôi muốn con mình biết lao động chăm chỉ, biết giữ chữ tín, sống tử tế và không ngừng học hỏi. Tôi muốn nó hiểu rằng, mọi thứ có được đều phải đánh đổi bằng nỗ lực. Khi có nền tảng đó, dù không có sẵn nhà cửa, con vẫn có thể tự xây dựng cuộc sống của mình.
Ngược lại, nếu cha mẹ lo sẵn mọi thứ, con cái dễ rơi vào tâm lý phụ thuộc. Một căn nhà có thể giúp nó khởi đầu thuận lợi, nhưng không đảm bảo nó sẽ đứng vững trước sóng gió cuộc đời. Điều tốt nhất tôi có thể cho con là sự giáo dục, là tấm gương về lao động và cách sống.
Ở tuổi này, tôi hiểu rõ giới hạn của mình. Làm thêm 10 năm nữa không chỉ là chuyện tiền bạc, mà còn là đánh đổi sức khỏe, thời gian và cả những năm tháng cuối đời. Tôi muốn nghỉ sớm, không phải vì tôi “vô tâm” với con, mà vì tôi tin mình đang cho con một thứ quan trọng hơn: khả năng tự đứng vững trong cuộc đời, kể cả khi không còn cha mẹ bên cạnh. Liệu tôi có sai không?
Tin Gốc: Vnexpress

Một đồng nghiệp của tôi mua căn hộ chung cư ở TP HCM ba năm trước với giá khoảng 4,2 tỷ. Ngày tân gia, ai cũng chúc mừng vì cuối cùng sau nhiều năm đi làm, vợ chồng bạn cũng có "chốn an cư" giữa thành phố. Nhưng chỉ vài năm sau, điều tôi nghe nhiều nhất từ bạn lại là than mệt vì áp lực trả nợ ngân hàng kéo dài hàng chục năm; mệt vì mỗi tháng vừa nhận lương đã phải ưu tiên tiền gốc, tiền lãi; mệt vì không dám nghỉ việc, không dám ốm, không dám sinh thêm con vì sợ không đủ tiền trả góp.
Trong khi đó, gia đình bạn đã có nhà ở quê, hoàn toàn không phải tay trắng, thì vì sao vẫn phải cố "bon chen" mua một căn nhà ở khu trung tâm bằng mọi giá? Tôi từng khuyên bạn rằng nếu chưa đủ lực tài chính thì cứ thuê nhà như tôi cho thoải mái. Hoặc nếu muốn sở hữu nhà, hoàn toàn có thể ra vùng ven hay ngoại ô tìm nơi phù hợp hơn với mức giá rẻ hơn nhiều. Nhưng bạn nhất quyết không nghe. Bạn bảo "sống ở đâu thì mua nhà ở đấy và đã mua thì phải chọn khu vực cho đáng, đi lại thuận tiện, gần trung tâm".
Tôi thật sự không hiểu vì sao nhiều người lại có tâm lý phải chen vào nội đô để sống cho bằng được? Mỗi lần vào trung tâm TP HCM, thứ tôi cảm nhận rõ nhất không phải sự hiện đại, mà là sự chật chội, ngột ngạt và áp lực. Đường đông nghẹt, không khí ô nhiễm, giá cả đắt đỏ, không gian sống ngày càng bí bách.
Trong khi đó, nhiều khu vực ngoại ô bây giờ phát triển không kém. Hạ tầng tốt hơn trước rất nhiều, tiện ích đầy đủ, siêu thị, trường học, bệnh viện đều có. Không khí dễ chịu hơn, chi phí sống cũng thấp hơn đáng kể. Thậm chí ở nhiều nơi, chợ dân sinh, khu công nghiệp, nhà máy, dịch vụ đều sẵn có, cơ hội việc làm không còn quá thiếu thốn như trước.
Theo tôi, với mức thu nhập khoảng 50 triệu đồng mỗi tháng của hai vợ chồng bạn, nếu chọn mua nhà ở vùng ven hay tỉnh giáp ranh, hoàn toàn có thể trả xong trong khoảng chưa đầy 10 năm mà cuộc sống vẫn còn dư chút thở. Ít nhất cũng không phải sống trong trạng thái lúc nào cũng lo nợ ngập đầu.
Nhiều người trẻ hiện nay đang xem việc sở hữu nhà ở trung tâm thành phố như một thước đo thành công. Vì mục tiêu đó, họ sẵn sàng làm việc ngày đêm, đánh đổi sức khỏe, thời gian và cả chất lượng sống. Có người làm hai, ba công việc cùng lúc. Có người chấp nhận môi trường áp lực kéo dài chỉ để giữ mức thu nhập đủ trả góp. Thậm chí, có người bất chấp mọi cách để "đi đường tắt", miễn nhanh đạt được mục tiêu mua nhà thành phố.
Tôi nghĩ điều đó sẽ kéo theo một hệ lụy không nhỏ. Nếu ai cũng muốn sống ở các quận trung tâm Hà Nội hay TP HCM, giá nhà chắc chắn còn tiếp tục leo thang. Thành phố cũng sẽ càng quá tải, kẹt xe và áp lực hạ tầng ngày càng nặng nề hơn.
Thực tế, một căn nhà khiến mình kiệt sức suốt 20-30 năm liệu có thực sự mang lại cảm giác "an cư" ổn định? Và liệu sống ở trung tâm thành phố có thật sự đáng để đánh đổi bằng quá nhiều áp lực như vậy?
Tin Gốc: Vnexpress

Tôi năm nay 45 tuổi. Trước đây, chuyện nhậu với tôi gần như là một phần cuộc sống. Từ tiệc cơ quan, tiếp khách, đến bạn bè lâu ngày gặp lại, hầu như lần nào cũng có rượu. "Không say không về, không vui không nghỉ" là những câu nói quá quen thuộc với tôi mỗi buổi nhậu như vậy.
Nhưng mọi thứ bắt đầu thay đổi khi cơ thể tôi "lên tiếng". Tôi hay bị đau bụng râm ran, lúc đầu nghĩ đơn giản là đau dạ dày do ăn uống thất thường. Nhưng rồi thêm triệu chứng lạ: mỗi lần ngồi xuống rồi đứng lên là chóng mặt, có lúc tối sầm mặt mày, phải vịn vào bàn ghế mới đứng vững. Lúc đó tôi mới bắt đầu lo.
Đi khám, bác sĩ kết luận tôi bị nhiễm HP dạ dày và rối loạn tiền đình. Nghe xong, tôi giật mình vì trước giờ bản thân vẫn luôn tự tin vào sức khỏe thuộc hàng đầu. Bác sĩ cảnh báo: "Nếu còn tiếp tục nhậu nhẹt như vậy thì khó mà khỏi, thậm chí còn nặng hơn". Không tin vào tai mình, tôi quyết định lên Sài Gòn khám lại cho chắc. Kết quả vẫn vậy, và lần này, tôi chọn cách thay đổi.
Tôi bỏ nhậu. Không phải giảm, mà là bỏ hẳn. Hơn nửa năm trời, tôi từ chối tất cả các lời mời nhậu. Ngay cả tiệc cơ quan tôi cũng xin phép về sớm. Bạn bè rủ rê tôi cũng tìm cách né. Những cuộc vui mà trước đây bản thân luôn là người "cầm trịch", giờ tôi đứng ngoài.
>> Tôi gục tại chỗ sau 10 chén rượu khai xuân một ngày về quê chúc Tết
Thời gian đầu quả thật rất khó. Không phải vì tôi thèm bia rượu, mà vì khó xử mỗi khi phải từ chối ai đó. Nhiều người không hiểu, nghĩ tôi làm màu, làm cao, hoặc gắn cho cái mác "sợ vợ". Có người còn nói thẳng: "Đàn ông mà vậy coi sao được?". Nhưng tôi vẫn kiên trì, bỏ ngoài tai tất cả. Vì tôi biết rõ cảm giác chóng mặt, đau bụng, mệt mỏi nó đáng sợ thế nào? Và tôi không muốn đánh đổi sức khỏe của mình lấy chút sĩ diện.
Dần dần, sức khỏe của tôi cải thiện. Tôi hết đau bụng, đầu óc nhẹ nhàng hơn, không còn cảm giác choáng váng mỗi khi đứng lên. Lần đầu tiên sau nhiều năm, tôi thấy cơ thể mình "dễ chịu" đúng nghĩa.
Những tưởng mọi chuyện sẽ nhẹ nhàng hơn, nhưng không. Khi tôi quay lại với các mối quan hệ cũ, vẫn có những ánh nhìn khác về mình. Tôi viện cớ "còn bệnh, bác sĩ cấm uống" để từ chối dần các cuộc vui. Nhưng bạn bè thì cười chê, nói ra nói vào: "Bệnh gì mà dai vậy?", "không uống nổi thì nói thẳng, bày đặt lý do", "uống vài ly có sao đâu"...
Có lúc tôi chạnh lòng, tự hỏi: "Mình làm vậy là đúng hay sai? Giữ sức khỏe cho bản thân mà cũng bị cười chê như vậy sao?". Nhưng rồi tôi nghĩ lại, không ai sống thay mình, không ai chịu đau thay mình, và cũng không ai chịu hậu quả sức khỏe thay mình được. Thế nên, tôi chọn sức khỏe, chọn sống tỉnh táo, chọn gia đình, dù đôi khi phải đánh đổi bằng việc bị hiểu lầm, chê trách.
Giờ đây, tôi không còn cố giải thích nhiều nữa. Ai hiểu thì hiểu, không hiểu cũng không sao. Tôi chỉ biết, mỗi sáng thức dậy không chóng mặt, không đau bụng, đó đã là điều đáng giá. Nếu là bạn, bạn có dám bỏ nhậu như tôi không?
Và khi bị bạn bè cười chê như vậy, bạn sẽ làm gì?
Nghị định 90/2026 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế vừa được Chính phủ ban hành, quy định: hành vi lôi kéo, ép buộc người khác uống rượu bia hoặc sử dụng thức uống này ngay trước, trong giờ làm việc, học tập sẽ khiến người vi phạm nộp 1- 3 triệu đồng.
Diep LuanChồng tự tin 'lon bia cho có không khí chẳng ảnh hưởng đến việc lái xe'
Một tháng chìm trong bia rượu vì 'chạy sô' tất niên từ Tết dương đến Tết âm
Trả giá vì tự tin lái xe về nhà sau khi 'uống vài chén cho vui'
Tuổi 30 bụng phệ, gan nhiễm mỡ độ 2 vì ngày nào cũng nhậu
'Tài xế say xỉn gây tai nạn chết người, bạn nhậu không vô can'
'Nhiều người nốc rượu, bia chứ không biết thưởng thức'
Nguồn: https://vnexpress.net/ep-uong-bia-toi-mang-tieng-khong-dang-mat-dan-ong-vi-bo-nhau-5059921.html

Tôi là một giáo viên Hóa học. Đứng trên giảng đường đại học, tôi không khỏi chạnh lòng khi chứng kiến những sinh viên từng nổi bật về Hóa ở cấp ba (kể cả với một số em đi thi Học sinh giỏi Hóa) bỗng dưng xa lạ với chính môn học mà các em từng yêu thích một thời. Thật khó tin khi các nguyên lý cơ bản của Hóa cơ sở và Hóa nhiệt động - nền tảng kiến thức vững chắc - lại có thể "bốc hơi" một cách nhanh chóng như chưa từng tồn tại.
Ở Việt Nam, có một bộ môn vừa đặc biệt, vừa "khó nhằn", vừa "độc nhất vô nhị" mà nhiều nước hiếm thấy, các thế hệ học sinh thường gọi vui là "Toán Văn Hóa học". Đây là bộ môn mà học sinh không chỉ học Hóa, mà còn phải "đánh vật" giải những bài tập tính toán "khủng", thậm chí là "siêu khủng" như: biến đổi liên quan đến hệ phương trình bậc 4, bậc 5, hệ nhiều ẩn, có những bài chiếm tới 1/3 trang giấy A4. Các bài tập này dài, phức tạp và yêu cầu logic cao đến mức học sinh dễ bị cuốn vào việc tính toán mà quên đi kiến thức cơ bản.
Điều bất ngờ là, ngay cả những học sinh từng nổi bật về Hóa học ở phổ thông, khi bước lên giảng đường đại học, lại bỡ ngỡ với những nguyên lý tưởng chừng đơn giản của Hóa học cơ sở và Hóa học nhiệt động. Nhiều em có thể giải các bài toán dài, nhưng lại quên đi những nguyên tắc nền tảng mà môn học dựa trên đó. Thực trạng này đặt ra một câu hỏi lớn: liệu áp lực về tính toán có đang vô tình làm phai nhạt nền tảng kiến thức cơ bản của học sinh?
Hệ lụy của việc "Toán hóa" quá mức môn Hóa học không còn là điều dự báo mà đã trở thành hiện thực. Trong vai trò giảng dạy Hóa học cơ sở ở bậc đại học, tôi không khỏi bàng hoàng khi nhận thấy sinh viên thường sai nhiều nhất ở những kiến thức tưởng chừng hết sức cơ bản: vẽ công thức cấu tạo, dự đoán hình học phân tử hay ước lượng góc liên kết. Thậm chí, nhiều em còn sai "hết sức vô lý" như vẽ oxygen hóa trị I, carbon hóa trị V, silicon hóa trị III, hay những lỗi vi phạm quy tắc bát tử (mặc dù không thuộc trường hợp ngoại lệ)...
Ngay cả trong học phần Hóa nhiệt động, nơi tính toán chiếm ưu thế, sinh viên có thể dùng máy tính để ra đáp số pH trong vài giây, nhưng khi được tôi yêu cầu chứng minh công thức đơn giản như: pH = 1/2 (pKₐ – logCₐ) (công thức tính pH của acid yếu), thì các em lại hoàn toàn bế tắc. Khi "chiếc gậy" là các dạng toán làm sẵn bị tước bỏ, tư duy Hóa học của các em lộ rõ những lỗ hổng thênh thang.
>> 'Đáng lo khi học sinh né Lý, Hóa, Sinh thi tốt nghiệp THPT'
Một ví dụ điển hình của một bài tập dạng "Toán Văn Hóa học" là: "Hỗn hợp P gồm ba ester mạch hở trong đó có hai ester đơn chức X, Y (MX < MY < 110, nX > nY) và một ester đa chức Z. Cho 5,07 gam P vào 32,00 gam dung dịch NaOH 10% rồi cô cạn dung dịch sau khi các phản ứng kết thúc thấy thu được 5,96 gam phần rắn Q và phần hơi T (gồm hơi nước và hỗn hợp hai alcohol no có cùng số nguyên tử carbon trong phân tử). Thêm bột CaO và NaOH dư vào Q rồi nung hỗn hợp trong bình chân không thấy thu được hỗn hợp hai hydrocarbon, hỗn hợp này làm mất màu vừa đủ 0,02 mol Br₂ trong dung dịch. Đốt cháy hết phần hơi T thu được 2,016 lít khí CO₂ và 31,23 gam H₂O. Các phản ứng xảy ra hoàn toàn, các thể tích khí đo ở điều kiện tiêu chuẩn. Tính phần trăm khối lượng của Z trong P?".
Để giải được bài tập trên, học sinh phải:
- Theo dõi nhiều dữ kiện phức tạp và tính toán nối tiếp;
- Áp dụng phản ứng xà phòng hóa, phản ứng với Br₂, định luật bảo toàn khối lượng;
- Tính toán số mol, khối lượng, liên hệ các phản ứng để tìm thành phần Z.
Mặc dù bài toán dài và nhiều bước, bản chất hóa học của các phản ứng này không phức tạp. Tuy nhiên, chính số liệu rườm rà và bước tính toán nối tiếp khiến học sinh dễ quên đi các kiến thức nền tảng: cơ chế phản ứng, bản chất phân cực của liên kết C=O trong ester, ảnh hưởng của cấu trúc phân tử đến nhiệt độ sôi của alcohol.
Mặt khác, nếu giáo viên yêu cầu các em: biểu diễn sự phân cực của liên kết C=O trong nhóm chức ester; hoặc hỏi "tại sao hai alcohol no cùng số nguyên tử carbon lại có nhiệt độ sôi khác nhau?", thì nhiều em sẽ lúng túng, dù vẫn giải được bài toán tính phần trăm khối lượng Z một cách cơ học. Đây là minh chứng rõ ràng rằng việc tập trung quá nhiều vào kỹ năng tính toán dài dòng khiến tư duy hóa học cơ bản bị bỏ quên, dẫn đến nghịch lý: học sinh có thể giải được bài toán trong phút chốc, nhưng lại không hiểu bản chất của chính các chất mình đang thao tác.
Sở dĩ phương pháp dạy và học này trở nên "độc hại" là bởi nó vi phạm nghiêm trọng thuyết Tải nhận thức (thuyết "tam tải", Cognitive Load Theory):
Thứ nhất, tải nội tại (phát sinh từ bản chất phức tạp của môn học) bị đẩy quá cao: độ khó của Hóa học lẽ ra nằm ở cấu tạo chất và các quá trình biến đổi, nhưng nay lại bị đánh tráo bằng sự lắt léo của toán học (phương trình bậc cao, hệ nhiều ẩn). Não bộ bị buộc phải ưu tiên xử lý thuật toán thay vì thấu hiểu quy luật vật chất.
Thứ hai, tải ngoại lai (đến từ cách trình bày hoặc phương pháp dạy học) quá tải: những đề bài dài "như một bài văn" và ma trận số liệu vụn vặt chính là "rác nhận thức". Chúng chiếm dụng hết bộ nhớ ngắn hạn, khiến học sinh kiệt sức vì những phép tính số học thuần túy trước khi kịp chạm đến tư duy Hóa học.
Thứ ba, tải liên quan (phát sinh khi học sinh kết nối kiến thức mới với kiến thức cũ) bị triệt tiêu: đây là phần quan trọng nhất để hình thành kiến thức bền vững. Khi hai loại tải trên quá lớn, não bộ không còn không gian để kết nối và ghi nhớ bản chất.
Hệ quả là chúng ta đang đào tạo nên những "thợ giải toán" có phản xạ cực tốt với các con số, nhưng lại rỗng tuếch về tư duy Hóa học. Đó có lẽ là lý do mà sinh viên của tôi có thể giải hệ phương trình 4 hay 5 ẩn rất nhanh, nhưng lại "đứng hình" khi yêu cầu vẽ một công thức cấu tạo hay chứng minh một công thức pH căn bản - những kiến thức lẽ ra phải nằm trong bộ nhớ dài hạn.
Thực tế, học sinh sợ Hóa không phải vì ghét môn học này, mà vì các em bị kiệt sức trước những ma trận số liệu đa chiều. Khi Hóa học vượt ra khỏi không gian ba chiều quen thuộc, nó không còn là câu chuyện về sự kỳ diệu của vật chất, mà trở thành một cuộc chạy đua giải toán khô khan, nơi ống nghiệm và bản chất Hóa học chỉ còn là những cái tên xa lạ.
Hóa học là khoa học về cấu tạo chất và các quá trình biến đổi, từ phản ứng cơ bản trong phòng thí nghiệm đến những ứng dụng thực tiễn sâu rộng trong đời sống. Khi môn học bị "Toán hóa" quá mức, học sinh dễ bị cuốn vào các bài toán dài, phức tạp, và quên đi bản chất thực sự của hóa học: hiểu cấu tạo phân tử, dự đoán tính chất, và giải thích các hiện tượng hóa học.
Trong thực tiễn, những kiến thức cơ bản này vô cùng quan trọng: hiểu tính chất acid - base giúp kiểm soát pH trong xử lý nước; nắm cấu tạo và phản ứng hữu cơ là nền tảng để sản xuất thuốc, polymer, hoặc vật liệu mới; dự đoán tương tác hóa học giúp thiết kế thực phẩm, mỹ phẩm hay chất tẩy rửa an toàn. Khi học sinh chỉ biết "giải bài toán" mà không hiểu cơ chế, các em sẽ khó áp dụng hóa học vào các tình huống thực tế, từ phòng thí nghiệm đến đời sống hằng ngày.
Để khắc phục, chúng ta cần tái cân bằng cách dạy Hóa học đúng bản chất: giảm tải các bài toán rườm rà, nhấn mạnh cơ chế, nguyên lý và tư duy phân tích, kết hợp lý thuyết với thực hành và ứng dụng thực tiễn. Khi học sinh nắm vững nền tảng, các em không chỉ giải được bài toán, mà còn có khả năng vận dụng hóa học một cách sáng tạo, từ việc kiểm soát pH, thiết kế phản ứng hóa học, đến phát triển vật liệu và dược phẩm. Như vậy, Hóa học không còn là những con số trên giấy, mà là công cụ để hiểu và tác động lên thế giới xung quanh, đúng với bản chất khoa học của nó.
Nhiều ý kiến cho rằng, nếu không có những bài tập nặng tính toán, chúng ta sẽ không thể phân loại được học sinh khá, giỏi. Tôi không đồng tình. Vấn đề nằm ở chỗ chúng ta đang nhầm lẫn giữa năng lực giải Toán và tư duy Hóa học, và từ đó chọn cách dễ nhất: dùng độ phức tạp của Toán học để làm thước đo cho môn Hóa.
Thực chất, một học sinh giỏi Hóa không phải là người giải nhanh những hệ phương trình nhiều ẩn, mà là người hiểu sâu bản chất và có khả năng suy luận từ nguyên lý. Việc phân loại hoàn toàn có thể thực hiện bằng những tiêu chí đúng bản chất hơn: tư duy biện luận dựa trên cơ chế; khả năng thiết lập mô hình và chứng minh; năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn.
Một thang đo sai sẽ cho kết quả sai. Nếu tiếp tục dùng độ rối của phép tính để đánh giá năng lực, chúng ta sẽ chỉ tạo ra những "thợ giải" thành thạo con số nhưng thiếu hụt tư duy khoa học. Điều cần hướng tới là những học sinh có khả năng hiểu sâu và suy luận trong thế giới vật chất ba chiều - nơi Hóa học thực sự tồn tại, chứ không phải những người chỉ giỏi thao tác trong "không gian đa chiều" của các phương trình.
Nguyễn Vũ Hoàng'Học Toán vất vả vì nặng công thức, ít tư duy'
Tích phân, đạo hàm 'khó nuốt'
Vật vã học Toán rồi quên sạch
Kỹ sư 20 năm kinh nghiệm chịu thua bài Toán tích phân lớp 12
Giá trị tích phân, đạo hàm nhìn từ chuyện Steve Jobs học thư pháp
Nhân viên bán hàng chê phí công học tích phân, đạo hàm
Nguồn: https://vnexpress.net/hoc-sinh-viet-danh-vat-mon-hoa-vi-tinh-toan-qua-nhieu-5061151.html

