Tôi tốt nghiệp đại học chuyên ngành xây dựng cách đây 10 năm với khá nhiều kỳ vọng. Những năm ngồi trên giảng đường, chúng tôi được dạy về kết cấu, vật liệu, tiêu chuẩn an toàn, về cách một công trình được hình thành từ bản vẽ đến thực tế. Với vốn kiến thức chuyên môn ấy, tôi từng nghĩ chỉ cần chăm chỉ và kiên trì, mình sẽ có một chỗ đứng vững vàng trong nghề.
Nhưng thực tế sau khi ra trường lại không như vậy. Tôi và bạn bè bắt đầu hành trình tìm việc đầy chật vật. Người thì nhận lương thấp, làm việc ở công trình xa nhà, điều kiện khắc nghiệt. Người khác vào được công ty một thời gian thì lại bị cắt giảm nhân sự khi dự án đình trệ. Có bạn liên tục nhảy việc nhưng vẫn không tìm được môi trường ổn định. Tấm bằng kỹ sư, thứ từng khiến chúng tôi tự hào, dần trở nên “nhẹ cân” trước thị trường lao động nhiều biến động.
Rồi một người bạn trong lớp chuyển hướng sang làm môi giới bất động sản, buôn đất. Ban đầu chỉ là thử sức, nhưng sau một thời gian, bạn ấy bắt đầu có thu nhập tốt hơn hẳn. Không còn cảnh chờ lương, không còn nỗi lo dự án dừng là mất việc. Bạn mua được xe, rồi nói đến chuyện mua nhà. Từ một người loay hoay với bản vẽ và công trường, bạn đổi đời khá nhanh.
>> Kỹ sư xây dựng 10 năm mất việc ba lần
Qua những buổi họp lớp, bạn giới thiệu thêm những người khác trong lớp tham gia cùng. Và rồi, từng người một chuyển nghề. Tính đến bây giờ, lớp tôi đã có ít nhất 5 kỹ sư xây dựng trở thành “cò đất”. Tôi không nghĩ họ kém chuyên môn. Ngược lại, nhiều người trong số họ từng học rất tốt, hiểu nghề, có năng lực. Nhưng rõ ràng, giữa một bên là công việc chuyên môn vất vả, thu nhập bấp bênh, và một bên là thị trường bất động sản sôi động với cơ hội kiếm tiền nhanh, lựa chọn của họ trở nên dễ hiểu.
Điều khiến tôi trăn trở không phải là việc cá nhân đổi nghề, mà là xu hướng phía sau nó. Khi những người được đào tạo bài bản trong các lĩnh vực kỹ thuật, xây dựng, công nghệ thông tin – những ngành tạo ra giá trị vật chất cụ thể – lại rời bỏ nghề để chạy theo làm giàu từ đất, thì có ổn không?
Tại sao bất động sản ở ta lại được coi là kênh “sinh lời” hấp dẫn đến vậy? Giá trị thực mà nó tạo ra cho xã hội là gì, ngoài việc giá tăng lên qua các lần mua đi bán lại? Trong khi ở nhiều nước phát triển, người ta đầu tư vào khoa học, công nghệ, kỹ thuật… để tạo ra sản phẩm, nâng cao năng suất, thì chúng ta lại dễ dàng bị cuốn vào việc “ôm đất” và coi đó là phát triển.
Bản thân tôi đến giờ vẫn cố gắng bám trụ với nghề. Tôi chấp nhận đi công trình xa, chấp nhận thu nhập chưa cao để tích lũy kinh nghiệm và giữ lấy con đường mình đã chọn. Nhưng thú thật, đôi khi nhìn bạn bè đổi đời nhanh chóng, tôi cũng không khỏi dao động. Tôi tự hỏi, ngoài kia còn bao nhiêu người như mình, đang dần mất kiên nhẫn với công việc chuyên môn?
Có lẽ vấn đề nằm ở cách thị trường đang vận hành. Khi những công việc đòi hỏi chất xám không mang lại sự ổn định và thu nhập tương xứng, còn bất động sản lại mở ra cơ hội kiếm tiền nhanh, thì dòng tiền và cả nguồn nhân lực sẽ tự nhiên chảy về phía đó. Nhưng nếu tiền cứ tiếp tục đổ tiền vào đất, còn những ngành tạo ra giá trị thực bị bỏ ngỏ, thì câu hỏi đặt ra là: chúng ta sẽ phát triển bằng cách nào?
Tôi chỉ mong có thêm những chính sách để thị trường bất động sản ổn định hơn, minh bạch hơn, để sức hút làm giàu nhanh không còn lấn át tất cả. Quan trọng hơn, cần tạo ra môi trường làm việc đủ tốt để những người làm nghề như chúng tôi có thể yên tâm gắn bó. Nếu không, sự rời bỏ sẽ còn tiếp diễn, và cái giá phải trả trong tương lai sẽ là không nhỏ.
Cuối tuần trước, tôi theo chân môi giới đi xem một căn hộ chung cư diện tích khoảng 30 m2 ở Hà Nội. Căn nhà nằm trong một dự án được quảng cáo là "cao cấp", diện tích vừa đủ kê một chiếc giường, bộ sofa nhỏ và góc bếp. Giá chào bán được đưa ra là gần 5 tỷ đồng. Nghe xong, tôi đứng hình mất mấy giây mới hoàn hồn rồi lấy lý do suy nghĩ thêm để bỏ về.
Nhiều năm đi làm, mỗi tháng tôi kiếm khoảng 40 triệu đồng. Tôi không tiêu xài hoang phí, nhưng đến lúc thật sự nghĩ đến chuyện mua nhà ở Hà Nội, tôi mới thấy khoảng cách giữa thu nhập và giá nhà xa hơn tưởng tượng rất nhiều. Nếu sống thực tế và an toàn, nhiều nhất tôi chỉ có thể dành khoảng 30% thu nhập cho việc mua nhà, tức khoảng 13 triệu đồng mỗi tháng. Đó là mức để tôi còn tiền sinh hoạt, chăm sóc gia đình, lo cho con cái ăn học và dự phòng những lúc đau ốm hay thất nghiệp.
Tôi từng đọc đâu đó rằng với thu nhập khoảng 25 triệu đồng một tháng mới nên vay khoảng 500 triệu để tránh áp lực tài chính quá lớn. Trong khi đó, trường hợp của tôi bây giờ là muốn mua căn hộ 5 tỷ phải vay thêm khoảng 3 tỷ đồng, dù đã dồn toàn bộ 2 tỷ tích lũy sau nhiều năm đi làm. Nhưng nếu dốc hết tiền mua nhà, rồi tôi sẽ sống bằng gì?
Điều khiến tôi càng khó chấp nhận hơn là nhiều dự án chung cư hiện nay gần như đều tự gắn mác "cao cấp" để đẩy giá bán lên cao. Nhưng thực tế đi xem mới thấy nhiều nơi xung quanh gần như không có tiện ích gì đáng kể, chỉ một tòa chung cư mọc chơ lơ giữa khu vực còn ngổn ngang. Có nơi hành lang hẹp đến mức hai người đi qua còn phải né nhau. Không gian xanh ít ỏi, khu sinh hoạt chung sơ sài, mật độ xây dựng dày đặc. Vậy nhưng giá bán vẫn bị đẩy lên mức của "căn hộ cao cấp".
>> 10 năm sống trong nợ nần khi tôi mua chung cư Hà Nội
Tôi nghĩ đã đến lúc cần có quy định rõ ràng hơn về tiêu chuẩn của một chung cư cao cấp. Cao cấp thì phải có tiêu chí cụ thể: mật độ xây dựng ra sao, diện tích cây xanh thế nào, tiện ích công cộng gồm những gì, chất lượng hành lang, chỗ để xe, không gian sinh hoạt chung, khoảng cách giữa các tòa nhà... Không thể chỉ cần sảnh đẹp hay gắn vài từ quảng cáo mỹ miều là giá bán tăng thêm cả tỷ đồng. Dự án nào không đạt tiêu chuẩn, nếu quảng cáo sai hoặc cố tình đánh tráo khái niệm để bán giá cao thì cần bị xử phạt.
Điều khiến tôi áp lực là cảm giác mình luôn phải chạy theo một thứ ngày càng xa tầm với. Tốc độ tăng giá bất động sản lúc nào cũng nhanh hơn rất nhiều so với tốc độ tiết kiệm của người đi làm công ăn lương. Có lúc tôi tự trách bản thân vì chưa giỏi hơn, kiếm chưa nhiều hơn. Nhưng rồi nhìn quanh, tôi thấy rất nhiều người trẻ cũng ở trong trạng thái tương tự. Thu nhập không thấp, làm việc chăm chỉ, sống tiết kiệm, nhưng vẫn cảm thấy mơ hồ khi nghĩ đến chuyện an cư.
Tôi biết sẽ có người nói rằng có thể chọn ở xa trung tâm hơn, hoặc chấp nhận vay dài hạn vài chục năm. Nhưng liệu một căn hộ nhỏ với khoản nợ quá lớn có đáng để đánh đổi cảm giác an toàn của cả cuộc sống hay không?
Năm 33 tuổi, vợ chồng tôi quyết định rời TP HCM sau nhiều năm cố bám trụ. Đó không phải là một lựa chọn dễ dàng, càng không phải vì chúng tôi chán cuộc sống thị thành. Nhưng tôi hiểu rằng có những giới hạn mà nỗ lực thôi là chưa đủ.
Hai vợ chồng tôi đều là nhân viên văn phòng, tổng thu nhập khoảng 30 triệu đồng mỗi tháng. Nghe qua, nhiều người nghĩ mức này không đến nỗi tệ. Chính chúng tôi trước đây cũng từng tin như vậy. Nhưng thực tế ở Sài Gòn đã dạy chúng tôi một bài học khác.
Tiền thuê nhà chiếm gần một phần ba thu nhập của chúng tôi. Một căn hộ nhỏ đủ cho bốn người sống đã ngốn khoảng 8-10 triệu đồng mỗi tháng. Chưa kể điện, nước, phí quản lý, gửi xe... mọi thứ cộng lại không hề nhỏ. Hai đứa con tôi còn nhỏ, tiền học thêm, sữa, sinh hoạt là những khoản không thể cắt giảm. Có tháng, chỉ riêng chi phí liên quan đến con đã hơn 10 triệu.
Chúng tôi từng thử "thắt lưng buộc bụng". Cắt bớt ăn ngoài, hạn chế mua sắm, gần như không có giải trí. Nhưng càng tiết kiệm, chúng tôi càng thấy cuộc sống trở nên ngột ngạt. Cuối tháng vẫn không dư được bao nhiêu, thậm chí có lúc phải rút tiền tiết kiệm để bù vào.
>> Vợ chồng một năm tiết kiệm 350 triệu đồng từ lương 40 triệu
Điều khiến tôi suy nghĩ nhiều nhất là cảm giác không có tương lai. Với mức thu nhập như vậy, việc mua nhà ở TP HCM gần như là điều không tưởng với chúng tôi. Giá nhà cứ tăng, còn thu nhập của chúng tôi thì gần như đứng yên. Hai vợ chồng tôi thậm chí không dám ốm, không dám thất nghiệp, vì chỉ cần một biến cố nhỏ là mọi thứ có thể sụp đổ.
Sau nhiều đêm bàn bạc, chúng tôi quyết định chuyển về Bình Dương sống và làm việc. Quyết định này đi kèm với không ít lo lắng: thay đổi môi trường sống, công việc, trường học của con. Nhưng đổi lại, chúng tôi có thể thuê một căn nhà rộng rãi hơn với chi phí thấp hơn gần một nửa. Cuộc sống vì thế cũng "dễ thở" hơn. Ở đây, chúng tôi vẫn phải làm việc cật lực, vẫn phải nuôi con, vẫn có những áp lực riêng, nhưng ít nhất không còn cảm giác bị chi phí đè nặng mỗi ngày.
Nhiều người trẻ hiện nay than rằng chi phí sống quá cao, lương không đủ chi tiêu, nói gì đến tiết kiệm. Tôi từng nghĩ đó là sự bi quan. Nhưng khi trải qua rồi, tôi thấy đó là thực tế. Không phải ai cũng có điều kiện để "trụ lại" ở một thành phố đắt đỏ như TP HCM. Chúng tôi không xem việc rời đi là thất bại. Ngược lại, đó là một cách thích nghi. Bởi suy cho cùng, mục tiêu không phải là sống ở đâu, mà là sống thế nào để gia đình không phải chật vật từng ngày.
Chiều hôm ấy, người yêu tôi gặp tôi với vẻ háo hức hiếm thấy. Vừa ngồi xuống, cô cẩn thận mở một chiếc hộp nhỏ, bên trong là một cây bút đen bóng. Cô đưa tôi xem, ánh mắt lấp lánh: "Em vừa được tặng đấy".
Tôi nhìn vài giây, rồi buột miệng, gần như theo phản xạ: "Anh tưởng gì... mấy loại này anh cũng được tặng vài cái rồi. Nhưng nói thật, chả cái nào dùng được. Viết không ra mực. Toàn bỏ xó, phí của, phí tiền".
Không khí chùng xuống gần như ngay lập tức. Cô khép hộp lại, động tác nhẹ nhưng dứt khoát. "Đây không phải bút để viết, đây là bút kỷ niệm". Tôi cười nhạt: "Đã là bút thì phải viết được chứ? Không viết được thì tặng làm gì?".
Cô nhìn thẳng vào tôi, không còn chút vui nào: "Anh lúc nào cũng thực dụng như thế à? Không phải cái gì cũng đo bằng việc dùng được hay không. Đây là sự trân trọng".
Tôi cũng bắt đầu khó chịu: "Anh không phủ nhận ý nghĩa. Nhưng tối thiểu nó phải làm đúng chức năng của nó chứ. Một cây bút viết được thì đâu có làm mất đi ý nghĩa?".
Cô lắc đầu, thở dài: "Vấn đề là anh không hiểu cảm xúc của em". Còn tôi thì nghĩ: vấn đề là cô đang bỏ qua một điều rất rõ ràng về công dụng của cây bút.
Cuộc nói chuyện dừng lại ở đó. Không ai thuyết phục được ai. Và rồi, từ một cây bút, chúng tôi giận nhau. Nhìn lại, tôi nhận ra câu chuyện này không chỉ là chuyện riêng của hai người. Nó giống như một lát cắt nhỏ của cách chúng ta nhìn nhận giá trị trong đời sống. Một bên sẽ nói như tôi: Đã là bút thì phải viết được. Không viết được thì dù mang danh nghĩa gì, cũng là một món đồ không trọn vẹn chức năng.
Nhưng một bên khác sẽ nói như cô ấy rằng giá trị của món quà không nằm ở công năng, mà nằm ở hoàn cảnh và ý nghĩa khi nó được trao. Đó là kỷ niệm, là sự trân trọng, không thể đo bằng chuyện "viết được hay không".
Chính sự khác biệt ấy lại dễ đẩy mọi chuyện đi xa hơn mức cần thiết. Bởi lẽ, trong một xã hội mà những giá trị biểu tượng ngày càng được đề cao, người ta có xu hướng chấp nhận rằng có những thứ "không cần dùng".
Trong khi đó, với nhiều người, đặc biệt là những trải nghiệm rất đời thường, một món đồ trước hết vẫn phải làm tốt chức năng của nó. Vậy thì câu hỏi đặt ra là: Một món quà mang tính nghi lễ có cần đảm bảo công năng cơ bản không? Hay chỉ cần "đúng ý nghĩa" là đủ? Và nếu người nhận thấy nó không dùng được, thì đó là lỗi của món quà hay chỉ là sự lệch nhau trong cách nhìn?