Bé Crew đang hồi phục một cách thần kỳ sau khi được ghép gan và thực hiện nghi thức rung chuông truyền thống tại Bệnh viện Nhi Cleveland Clinic, theo ABC News hôm 4/4. “Đó là một phép màu”, Nicole Dearth, mẹ bé Crew, xúc động nói.
“Nếu một người lạ không biết câu chuyện của thằng bé, họ sẽ chẳng thể tin được con đã trải qua những biến cố lớn lao đến thế, bởi hiện giờ trông con chẳng khác gì những đứa trẻ bình thường khác”, người mẹ nói.
Bà mẹ 4 con kể con trai út được chẩn đoán mắc một loại ung thư gan hiếm gặp hồi tháng 3/2025. Đó là khối u nguyên bào gan (hepatoblastoma) ác tính giai đoạn 4 đã di căn sang phổi phải. Sau hơn một năm trải qua nhiều đợt hóa trị liệu tích cực và 9 tháng kể từ ca phẫu thuật ghép tạng, Crew hiện không còn phải tiếp tục bất kỳ phương pháp điều trị nào.
Theo Viện Ung thư Quốc gia Mỹ, u nguyên bào gan là loại ung thư hình thành trong các mô gan. Đây là dạng ung thư gan phổ biến nhất ở trẻ em, thường ảnh hưởng đến trẻ dưới 3 tuổi. Các triệu chứng điển hình gồm xuất hiện khối u hoặc sưng vùng bụng, đau bụng, sụt cân không rõ nguyên nhân, chán ăn, buồn nôn và nôn.
Năm ngoái Crew bị cúm nhưng các triệu chứng không thuyên giảm theo thời gian. Qua chẩn đoán hình ảnh, các bác sĩ phát hiện gan của bé bị phình to do một khối u ác tính. “Tôi đã sốc và choáng váng, không thể tin được lại phải đối mặt với nghịch cảnh này khi con mới 11 tháng tuổi”, người mẹ nhớ lại.
Sau khi có chẩn đoán, gia đình được thông báo Crew cần phải ghép gan. Dì của bé, Taylor Dearth, cho biết ngay từ đầu đã muốn được giúp cháu mình. “Tôi cảm thấy như đó là định mệnh nếu mình có thể làm điều gì cho con”, Taylor, một bà mẹ 3 con, tâm sự.
Kết quả xét nghiệm cho thấy cô là người phù hợp để hiến tạng. Hai dì cháu đã cùng bước vào ca phẫu thuật ghép tạng vào cuối tháng 6/2025. “Điều đầu tiên tôi muốn biết sau ca mổ là Crew có ổn không, vì tôi hiểu ca phẫu thuật của con phức tạp hơn của mình rất nhiều. Nghe tin con tiến triển tốt, mọi thứ với tôi đều trở nên vô giá”, Taylor kể.
Tháng 10 năm ngoái, Crew cùng gia đình thực hiện nghi thức rung chuông đánh dấu cột mốc kết thúc quá trình điều trị. Dearth hy vọng câu chuyện của Crew sẽ góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về ung thư nhi khoa và ý nghĩa của việc hiến tạng từ người sống. “Tôi chưa bao giờ nghĩ mình có cơ hội cứu sống một ai đó. Tôi muốn mọi người hiểu rõ hơn về việc hiến tạng và những tác động to lớn mà hành động này mang lại”, Taylor chia sẻ.
Trong các video lan truyền, sau khi rút tép tỏi ra khỏi mũi, chất nhầy dường như “tuôn ra” rất nhiều. Điều này được dùng như bằng chứng cho thấy tỏi đã “làm sạch” xoang. Thực tế, hiện tượng này không hề chứng minh hiệu quả, mà còn cho thấy người thực hiện có thể đang hiểu sai về cơ chế hoạt động của mũi, theo Healthline (Mỹ).
Theo tiến sĩ - thạc sĩ điều dưỡng Debra Sullivan, giảng viên cao cấp tại Đại học Walden (Mỹ), một số video hướng dẫn bóc vỏ tỏi, nhét mỗi bên mũi một tép và giữ trong 10 - 20 phút. Khi lấy ra, chất nhầy chảy ra nhiều, khiến người xem tin rằng tỏi đã giúp thông xoang. Nhưng sự thật không đơn giản như vậy.
Niêm mạc mũi có nhiệm vụ tiết chất nhầy để giữ lại vi khuẩn, dị nguyên và bụi bẩn. Khi bị cảm lạnh hoặc dị ứng, cơ thể tăng tiết chất nhầy để tự bảo vệ, gây cảm giác nghẹt mũi.
Khi nhét tỏi vào mũi, bạn đã vô tình chặn đường lưu thông không khí và giữ chất nhầy lại phía sau tép tỏi. Cơ thể coi đó là vật cản, vì vậy, khi rút tỏi ra, lượng chất nhầy bị “dồn ứ” sẽ chảy ra cùng lúc. Nói cách khác, chất nhầy tuôn ra là do cơ thể đang cố gắng đẩy dị vật (tép tỏi) ra ngoài.
Ngoài ra, tỏi chứa các hợp chất như allicin - tạo mùi đặc trưng và có tính kháng khuẩn - nhưng đồng thời cũng gây kích ứng mạnh niêm mạc mũi.
Cơ thể nhận thấy vừa có vật cản, vừa có chất kích thích hóa học, nên càng tăng tiết chất nhầy nhiều hơn. Điều này khiến “hiệu ứng” trong video càng rõ, nhưng đó là phản ứng kích ứng chứ không phải dấu hiệu chữa lành.
Tỏi được biết đến với đặc tính kháng viêm và kháng khuẩn khi ăn vào cơ thể. Tuy nhiên, không có bằng chứng lâm sàng nào cho thấy nhét tỏi vào mũi giúp giảm nghẹt mũi.
Các nghiên cứu về lợi ích của tỏi đều liên quan đến việc ăn, không phải tiếp xúc trực tiếp với niêm mạc mũi. Phương pháp nhét tỏi vào mũi để trị nghẹt mũi cũng không được kiểm chứng về hiệu quả lẫn độ an toàn.
Cách làm này có thể gây ra nhiều rủi ro như:
Thay vì làm theo trào lưu, các phương pháp sau được y khoa khuyến nghị:
Tóm lại, nhét tỏi vào mũi không giúp thông xoang theo cách có lợi về mặt y khoa. Ngược lại, nó gây kích ứng, tăng tiết chất nhầy và tiềm ẩn nguy cơ nhiễm trùng hoặc chấn thương. Khi bị nghẹt mũi, hãy chọn những phương pháp đã được kiểm chứng thay vì chạy theo trào lưu trên mạng.
Bệnh thận mạn tính là vấn đề sức khỏe ngày càng phổ biến, đặc biệt khi bệnh tiến triển nặng có thể dẫn đến phải chạy thận lâu dài. Trong bối cảnh đó, nghiên cứu mới công bố trên tạp chí y khoa JAMA Network Open cho thấy một chế độ ăn đạm vừa phải có thể giúp làm chậm tiến triển suy thận ở bệnh nhân giai đoạn 3 - 4 và giảm nguy cơ phải chạy thận nhân tạo.
Các nhà nghiên cứu, dẫn đầu là bác sĩ Ilia Beberashvili từ Bệnh viện Yitzhak Shamir Medical Center (Israel), đã thực hiện nghiên cứu trên 1.441 bệnh nhân thận mạn tính giai đoạn 3 - 4, ở độ tuổi trung bình là 67, được theo dõi trong 15 năm, nhằm tìm ra lượng đạm tiêu thụ mỗi ngày giúp bảo vệ quả thận cho bệnh nhân thận mạn tính.
Các tác giả đã xem xét mối liên hệ giữa lượng đạm ăn vào trong ngày với tình trạng suy thận trong dài hạn.
Họ đã tiến hành đánh giá lượng đạm hấp thụ qua chế độ ăn bằng cách sử dụng lượng nitơ bài tiết qua nước tiểu trong 24 giờ và lượng đạm tiêu thụ hằng ngày theo trọng lượng cơ thể.
Kết quả đã phát hiện những người ăn ít đạm (ít hơn 1 gram đạm cho 1 kg thể trọng mỗi ngày, ví dụ người 50 kg ăn ít hơn 50 gram đạm một ngày) đã giảm 23% nguy cơ suy giảm chức năng thận về mặt tổng thể. Cụ thể như sau:
Các nhà nghiên cứu cho rằng việc kiểm soát lượng đạm ở mức vừa phải có thể giúp giảm áp lực lên thận, từ đó góp phần làm chậm quá trình suy giảm chức năng thận. Trong nghiên cứu này, chế độ ăn trên cũng chưa ghi nhận nguy cơ thiếu hụt dinh dưỡng rõ rệt ở phần lớn bệnh nhân được theo dõi.
Các nhà nghiên cứu kết luận rằng, lượng protein hấp thụ ở mức vừa phải - ít hơn 1 gram đạm cho 1 kg thể trọng mỗi ngày - giúp giảm nguy phải chạy thận nhân tạo mà không bị thiếu chất.
Những phát hiện này ủng hộ việc hạn chế đạm ở mức độ vừa phải, kết hợp với việc theo dõi lượng đạm hấp thu vào cơ thể có thể giúp bảo vệ chức năng thận tốt hơn.
Đây là bằng chứng mạnh mẽ cho thấy chế độ ăn đạm vừa phải có khả năng bảo tồn chức năng thận thực sự.
"Ung thư vú là bệnh có tỉ lệ mắc mới nhiều nhất trong số các ung thư ở phụ nữ, với xấp xỉ 25.000 người/năm. Hiệu quả điều trị căn bệnh này ở Việt Nam gần đây có nhiều thay đổi, tiệm cận với thế giới, kết quả này nhờ tỉ lệ người bệnh được phát hiện và điều trị ở giai đoạn sớm đạt 3/4/tổng số ca, thay cho trước đây 3/4 người bệnh đến ở giai đoạn muộn" - PGS Quang cho biết tại hội thảo quốc tế về ung thư vú 2026, có chủ đề "Phối hợp đa mô thức kiểm soát ung thư vú trong kỷ nguyên y học chính xác", tổ chức trong 2 ngày 22 và 23-4 tại Hà Nội.
Theo thống kê chung của Bệnh viện K, ung thư vú hiện chiếm khoảng 1/4 tổng số ca mắc ung thư nói chung ở phụ nữ.
Mặc dù kết quả điều trị đã có bước tiến, nhưng các bác sĩ đánh giá ung thư nói chung và ung thư vú nói riêng vẫn là căn bệnh thách thức với y khoa do yêu cầu phối hợp đa mô thức trong điều trị gồm phẫu thuật, điều trị toàn thân, chẩn đoán hình ảnh, sinh học phân tử và chăm sóc giảm nhẹ, tư vấn tâm lý, trong khi ở Việt Nam, dịch vụ chăm sóc giảm nhẹ và tư vấn tâm lý cho người bệnh ung thư chưa được triển khai rộng rãi.
"So với các ung thư khác thì ung thư vú là một trong những nhóm bệnh ung thư có tiên lượng điều trị tốt, 85-90% bệnh nhân sống thêm từ 5 năm trở lên sau điều trị, nhiều người bệnh đã sống thêm trên 30 năm. Ghi nhận thực tế điều trị cho thấy những người bệnh đó đến bệnh viện vì những bệnh lý khác, không phải do ung thư vú, điều đó cho thấy bệnh ung thư vú đã được điều trị khỏi" - PGS Quang nói thêm.
PGS Quang cũng khuyến cáo việc chủ động khám, chăm sóc sức khỏe, tầm soát ung thư là chìa khóa để kiểm soát ung thư vú. "Hiệu quả điều trị phụ thuộc rất lớn và thời điểm phát hiện bệnh sớm hay muộn và giai đoạn của bệnh, chị em phụ nữ nên quan tâm đến sức khỏe của mình, tầm soát định kỳ hằng năm ở độ tuổi từ 40 hoặc khi có dấu hiệu bất thường" - PGS Quang thông tin.
Hội thảo quốc tế ung thư vú 2026 thu hút sự tham gia của nhiều chuyên gia Việt Nam và các nước Mỹ, Pháp, Nhật, Úc, Singapore...
Các chuyên gia cũng phân tích chuyên môn xung quanh vấn đề sàng lọc và tư vấn di truyền ở nhóm bệnh nhân ung thư vú nguy cơ cao; Các xu hướng can thiệp tối thiểu, hiệu quả tối đa; Ứng dụng AI trong chẩn đoán hình ảnh, giải phẫu bệnh; Cập nhật các phương pháp điều trị toàn thân, điều trị đích; Hỗ trợ tâm lý và tư vấn cho bệnh nhân...
Đặc biệt các diễn giả sẽ có cuộc trao đổi với 150 bệnh nhân ung thư vú đang điều trị về các vấn đề liên quan đến tâm lý người bệnh và tác dụng phụ mà người bệnh đang gặp phải.