Tuy nhiên, theo hướng dẫn của TAND tối cao, “thông báo thu hồi đất” lại không phải đối tượng khởi kiện vụ án hành chính. Thực tiễn này đang đặt ra vấn đề về quyền tiếp cận công lý và cơ chế kiểm soát quyền lực hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Theo Công văn số 207 ngày 30-10-2024 của TAND tối cao về giải đáp vướng mắc trong xét xử hành chính, “thông báo thu hồi đất” chỉ là bước đầu trong trình tự, thủ tục thu hồi đất; chưa làm phát sinh, thay đổi, hạn chế hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ cụ thể của tổ chức, cá nhân nên không phải đối tượng khởi kiện vụ án hành chính theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
Về lý luận, có thể quan điểm này nhằm phân biệt giữa văn bản mang tính chuẩn bị thủ tục với quyết định hành chính tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân. Tuy nhiên, thực tiễn quản lý đất đai tại nhiều địa phương cho thấy việc áp dụng theo hướng này đang phát sinh nhiều bất cập.
Tại Khánh Hòa còn tồn tại những dự án có thông báo thu hồi đất từ rất lâu (các năm 2009, 2010), nhưng việc thu hồi đất thực tế không hoàn tất, dự án chậm triển khai kéo dài 15 – 20 năm.
Trong khoảng thời gian đó, người dân bị hạn chế xây dựng, sửa chữa nhà ở; khó khăn trong chuyển nhượng, thế chấp, tách thửa; tài sản giảm giá trị và luôn sống trong tình trạng chờ giải tỏa.
Dù chỉ mang tên gọi là “thông báo”, nhưng hậu quả pháp lý mà các văn bản này tạo ra là rất rõ ràng. Nếu nhìn từ tác động thực tế đến quyền sử dụng đất thì “thông báo thu hồi đất” không còn đơn thuần là văn bản thông tin hành chính.
Điều đáng chú ý là khi người dân khiếu nại hoặc khởi kiện, cơ quan chức năng thường viện dẫn quan điểm của TAND tối cao để cho rằng đây không phải đối tượng khiếu kiện. Hệ quả là người dân gặp khó khăn trong việc tiếp cận cơ chế bảo vệ quyền lợi hợp pháp liên quan đến đất đai.
Trong khi đó, quyết định thu hồi đất chính thức có thể nhiều năm sau vẫn chưa được ban hành.
Thậm chí có trường hợp quyết định thu hồi đất bị tòa án tuyên hủy vì trái pháp luật nhưng thông báo thu hồi đất trước đó vẫn tiếp tục tồn tại. Người dân thắng kiện nhưng quyền lợi thực tế chưa được giải quyết triệt để, đến nay vẫn còn khiếu nại trong thủ tục hành chính đất đai.
Điển hình tại Nha Trang là dự án SASCO, một dự án kéo dài hơn 20 năm, nhiều lần được cử tri kiến nghị thu hồi do chậm tiến độ nhưng chưa được xử lý dứt điểm.
Theo báo cáo giám sát số 157 ngày 4-12-2020 của HĐND tỉnh Khánh Hòa, đây là một trong nhiều dự án chậm tiến độ kéo dài trên 10 năm, có vi phạm liên quan đến Luật Đầu tư, Luật Đất đai và Luật Quy hoạch. Dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư từ năm 2008 nhưng chưa hoàn tất thủ tục giao đất, thuê đất, chưa được cấp phép xây dựng.
Người dân trong khu vực dự án đã nhiều lần kiến nghị chấm dứt hiệu lực Thông báo thu hồi đất số 444/TB-UBND ngày 31-8-2009, nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết dứt điểm mặc dù Bí thư Tỉnh ủy Khánh Hòa đã từng có chỉ đạo giải quyết.
Mặc dù vậy, việc khởi kiện hành chính đối với thông báo này lại không được tòa án thụ lý. Quyền lợi thực tế của người dân bị ảnh hưởng nhưng thiếu công cụ tố tụng hữu hiệu để kiểm soát.
Hiến pháp năm 2013 quy định công dân có quyền được bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp về tài sản và quyền khiếu nại, khởi kiện đối với hành vi, quyết định hành chính trái pháp luật.
Nếu một “Thông báo” hành chính tồn tại suốt hàng chục năm và làm hạn chế quyền tài sản của người dân thì việc xem đó chỉ là “văn bản thông tin” có lẽ chưa phản ánh đầy đủ bản chất pháp lý của quan hệ phát sinh trên thực tế.
Từ thực tiễn này, cần nghiên cứu hoàn thiện pháp luật đất đai theo hướng cho phép khởi kiện đối với các thông báo thu hồi đất có tác động thực tế đến quyền sử dụng đất; đồng thời luật cần xác định rõ trách nhiệm cơ quan nhà nước khi để xảy ra tình trạng “dự án treo” “treo quyền” của người dân vượt quá thời hạn luật định.
Ngày 11/5, Công an Tp.Đồng Nai thông tin, Đồn Công an khu công nghiệp Bắc Đồng Phú vừa bàn giao hồ sơ, đối tượng cùng tang vật trong vụ đánh bạc cho Công an phường Đồng Phú tiếp tục thụ lý theo quy định của pháp luật.
Trước đó, khoảng 15h ngày 27/4, Tổ công tác Đồn Công an Khu công nghiệp Bắc Đồng Phú tiến hành kiểm tra hành chính nhà trọ Tiến Thảo tại thôn Bàu Ké, phường Đồng Phú do bà N.T.T. (SN 1970, trú thôn Minh Hòa, phường Đồng Phú) quản lý.
Qua kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang 4 đối tượng gồm: N.T.T. (SN 1970), T.V.L. (SN 1980), H.M.K. (SN 1986, cùng trú tỉnh Cà Mau) và N.T.C.T. (SN 1992, trú tỉnh An Giang) đang đánh bạc dưới hình thức chơi bài "tiến lên".
Tại hiện trường, công an thu giữ 4 bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng, số tiền 11,15 triệu đồng cùng 1 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 Pro Max.
Làm việc với cơ quan công an, các đối tượng đã thừa nhận hành vi đánh bạc.
Đồn Công an Khu công nghiệp Bắc Đồng Phú đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với các đối tượng về hành vi đánh bạc.
Hiện cơ quan công an đang tiếp tục củng cố hồ sơ để xử lý các đối tượng theo quy định của pháp luật.
Như Tuổi Trẻ Online đã thông tin, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP.HCM (Phòng Cảnh sát hình sự) đang điều tra vụ án "cưỡng đoạt tài sản" do bị can Vũ Hoàng Long (42 tuổi), Giám đốc Công ty cổ phần đầu tư mua bán nợ Song Long (Công ty mua bán nợ Song Long) và 16 đồng phạm thực hiện.
Tại Cơ quan điều tra, Vũ Hoàng Long thừa nhận hành vi phạm tội như kết quả điều tra của Công an TP.HCM.
Theo lời khai của Vũ Hoàng Long, Công ty mua bán nợ Song Long do mình thành lập, đứng tên đại diện pháp luật và trực tiếp điều hành mọi hoạt động.
Các hợp đồng mua bán nợ do công ty ký với khách hàng thực chất chỉ là "hợp đồng giả cách", không phát sinh hoạt động mua bán nợ thật mà nhằm che giấu việc đòi nợ thuê, né tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng sau khi dịch vụ đòi nợ thuê bị cấm.
Theo thỏa thuận với khách hàng, nhóm này hưởng tỉ lệ từ 25% đến 55% trên số tiền thu hồi được, tùy từng vụ việc. Khi đòi được tiền, công ty trích 40% chia cho "đội pháp chế" - lực lượng trực tiếp đi đòi nợ; 60% còn lại dùng cho hoạt động công ty và chi tiêu cá nhân của Long.
Về phương thức hoạt động, sau khi ký hợp đồng với khách hàng, Long phân công nhân viên liên hệ người vay, gửi thông báo cho biết khoản nợ đã được bán cho Công ty mua bán nợ Song Long.
Trường hợp người vay không hợp tác hoặc không đồng ý trả nợ, Long tiếp tục chỉ đạo các nhân viên có hình xăm, thường xuyên đi ô tô dán logo công ty đến nhà người vay để gây áp lực, khiến người vay bị ảnh hưởng uy tín và sinh hoạt nhằm buộc trả tiền.
Cũng theo bị can Long, Công ty mua bán nợ Song Long chỉ nhận đòi những khoản nợ từ 50 triệu đồng trở lên. Còn hợp đồng có giá trị lớn nhất mà Công ty Song Long nhận đòi nợ thuê có giá trị gần 10 tỉ đồng nhưng hợp đồng này không đòi được.
Theo Công an TP.HCM, quá trình điều tra xác định công ty của Long xây dựng bộ máy hoạt động chặt chẽ với các "đội pháp chế", "đội thu hồi nợ", bộ phận khách hàng, kế toán và kỹ thuật.
Các nghi phạm được phân công nhiệm vụ cụ thể từ tiếp nhận hồ sơ, thẩm định khoản nợ, xác minh nơi ở, tài sản của người vay đến trực tiếp tổ chức đòi nợ. Tất cả dữ liệu, tiến độ đòi nợ và chỉ đạo điều hành đều được quản lý thông qua phần mềm nội bộ.
Tỉ lệ ăn chia dao động 25 - 55%, tùy từng vụ việc. Ngoài ra, khách hàng còn phải đóng "phí thẩm định hồ sơ" lên đến hàng chục triệu đồng, không hoàn lại nếu không đòi được nợ.
Để gây áp lực buộc con nợ trả tiền, các nhóm của Công ty Song Long thường sử dụng nhiều ô tô dán logo doanh nghiệp, kéo 2 - 5 người mặc đồng phục, xăm trổ đến nhà riêng, nơi làm việc hoặc cơ sở kinh doanh của người nợ.
Các đối tượng tụ tập đông người, lớn tiếng đòi nợ, theo dõi sinh hoạt, đeo bám nhiều ngày, gây mất an ninh trật tự và ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, tâm lý của bị hại.
Cơ quan điều tra xác định từ năm 2020 đến nay, công ty này đã ký 400 - 500 hợp đồng "mua bán nợ", đòi được hơn 100 tỉ đồng và thu lợi 15 - 20 tỉ đồng.
Thượng tá Đới Ngọc Thắng - Phó trưởng Phòng Cảnh sát hình sự Công an TP.HCM - cho biết các nghi can trong những đường dây tội phạm trên có kiến thức nhất định về các quy định của pháp luật, có sự phân công trách nhiệm vị trí vai trò của từng bộ phận, từng cá nhân trong công ty.
Các nghi can đã nghiên cứu kỹ quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động kinh doanh, hợp đồng dân sự và tâm lý của khách hàng để xây dựng phương thức hoạt động tinh vi.
Toàn bộ quá trình giao dịch đều được thực hiện bằng các hợp đồng, chứng từ, hóa đơn, biên bản và lập nhiều tài liệu khác mang hình thức hợp pháp. Tuy nhiên, các cam kết, lời hứa, sản phẩm ảo của nhân viên tư vấn không có trong hợp đồng.
"Trong hợp đồng ràng buộc những điều kiện có lợi cho công ty khi xảy ra khiếu nại về dịch vụ.
Chính điều này đã khiến nhiều người bị hại ban đầu cho rằng đây chỉ là cái tranh chấp dân sự nên không tố giác đến cơ quan công an.
Mặt khác, nhiều người sau khi phát hiện quyền, lợi ích thực tế không đúng với cam kết, vẫn kỳ vọng vào doanh nghiệp sẽ tiếp tục thực hiện những nghĩa vụ hoặc hoàn trả lại tiền nên chậm trình báo.
Một số trường hợp vì ngại va chạm pháp lý, ngại mất thời gian hoặc là cho rằng bản thân đã tự nguyện ký hợp đồng nên không muốn đến tố giác.
Tuy nhiên, cần khẳng định rằng pháp luật luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Khi có căn cứ để chứng minh các đối tượng đã sử dụng thủ đoạn gian dối ngay từ đầu nhằm chiếm đoạt tài sản, thì hành vi đó không còn là quan hệ về dân sự đơn thuần, mà đây là có dấu hiệu của tội phạm về hình sự và sẽ được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật", ông Thắng phân tích.
Cũng theo thượng tá Đới Ngọc Thắng, quá trình điều tra ban đầu ghi nhận nguồn tài liệu dữ liệu của các bị hại mà những công ty thu thập được qua nhiều hình thức, chủ yếu là từ các đối tượng mua bán qua trang mạng xã hội, nhóm kín.
Bên cạnh đó, nhiều trường hợp là nhân viên của các công ty khác khi nghỉ việc đã mang về công ty mới dữ liệu khách hàng để sử dụng cho mục đích là tiếp cận, mời chào và thực hiện hành vi phạm tội.
"Đây là vấn đề rất đáng quan tâm bởi thời gian qua, tình hình mua bán, trao đổi dữ liệu cá nhân trái phép diễn ra dưới nhiều hình thức ngày càng tinh vi.
Khi có thông tin trong tay, dữ liệu chi tiết về khách hàng, các đối tượng có thể dễ dàng tạo niềm tin, xây dựng các kịch bản mang tính cá nhân hóa, khiến cho cá nhân mất cảnh giác và dễ trở thành nạn nhân.
Cơ quan điều tra đang tiếp tục mở rộng, xác minh làm rõ toàn bộ nguồn gốc dữ liệu và trách nhiệm của các tổ chức cá nhân có liên quan để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật", ông Thắng thông tin thêm.
Ngoài ra, cơ quan điều tra cũng đang tiến hành rà soát toàn bộ các mối quan hệ giữa pháp nhân, cá nhân có liên quan, làm rõ quá trình hình thành và chuyển giao, sử dụng dữ liệu khách hàng.
Cùng với đó cơ quan điều tra cũng sẽ xác minh các mối liên hệ về nhân sự quản lý, cổ đông, đối tác kinh doanh cũng như các giao dịch tài chính phát sinh.
Quá trình điều tra, Lê Trần Nhật Thọ - Chủ tịch Công ty cổ phần dịch vụ League Of Resorts (LORS) - khai: Sau khi thuyết phục được khách hàng đến công ty, nhân viên tư vấn kinh doanh sẽ tiếp cận, giới thiệu về những "sản phẩm" của công ty từ đó nắm bắt sở thích của khách rồi tập trung "đánh mạnh" vào sở thích đó.
Công ty này còn cam kết khách hàng sẽ được ưu đãi lãi suất hằng năm, nếu có nhu cầu chuyển nhượng thì sau 2 năm sẽ thu mua lại.
Tuy nhiên Thọ thừa nhận công ty thực chất không có ý định sẽ thu mua lại, thay vào đó tiếp tục "thao túng" khách mua thêm hợp đồng.
Đối với trường hợp khách hàng muốn hủy hợp đồng, Thọ chỉ đạo nhân viên tìm mọi cách thuyết phục, "câu giờ", hứa hẹn cho thêm ưu đãi để khách hàng tiếp tục thực hiện hợp đồng.
"Công ty đánh vào lòng tham của khách hàng khi thấy khách hàng có hứng thú với những sản phẩm của công ty. Thực tế công ty chỉ trả lãi suất ưu đãi trong năm đầu tiên, qua năm thứ 2 trở đi thì khách bắt đầu sử dụng điểm gốc của gói đến khi hết thì chấm dứt dịch vụ", Thọ thừa nhận.