Ngày 29/6, Bệnh viện E thông tin về ca cấp cứu thành công nam thanh niên 25 tuổi bị nhồi máu cơ tim.
BSCKII Nguyễn Thế Huy, Phó Trưởng khoa Nội Tim mạch người lớn, Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện E, cho biết bệnh nhân là nam giới 25 tuổi, có tiền sử hút thuốc lá từ khi 15 tuổi.
3 ngày trước thời điểm nhập viện, người bệnh đã xuất hiện cảm giác nặng ngực, đau ngực nhưng không đi khám vì cho là triệu chứng thông thường.
Khoảng 3 giờ trước khi vào viện, người bệnh đột ngột xuất hiện cơn đau thắt ngực dữ dội, vã mồ hôi nhiều, khó thở tăng dần và được đưa tới bệnh viện địa phương. Nghi ngờ bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim cấp, tuyến dưới đã chuyển khẩn cấp đến Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện E.
Theo BS Huy, khi được đưa đến Bệnh viện E, nam thanh niên vẫn đau thắt ngực. Kết quả điện tim và siêu âm tim cho thấy nhiều dấu hiệu gợi ý tình trạng thiếu máu cơ tim cấp tính.
Kết quả chụp động mạch vành cấp cứu khiến các bác sĩ bất ngờ, bởi nam bệnh nhân trẻ bị tắc cấp tính hoàn toàn động mạch liên thất trước ngay từ đoạn gần xuất phát, đồng thời có tổn thương tắc mạn tính động mạch vành phải.
“Đây là tổn thương rất nặng, hiếm gặp ở độ tuổi 25”, BS Huy nói.
Ngay sau đó, ê-kíp đã tiến hành hội chẩn, can thiệp cấp cứu để tái thông động mạch vành. Sau can thiệp, bệnh nhân đã được khôi phục dòng máu nuôi tim, cải thiện nhanh tình trạng đau ngực và ổn định huyết động. Sau hai ngày điều trị, bệnh nhân được xuất viện trong tình trạng ổn định.
Chuyên gia cảnh báo, nhồi máu cơ tim thường gặp ở người trung niên và cao tuổi do quá trình xơ vữa động mạch diễn ra trong nhiều năm. Vì thế, với một bệnh nhân trẻ mới 25 tuổi bị tổn thương động mạch vành nghiêm trọng là trường hợp đặc biệt đáng chú ý.
Thực tế, những năm gần đây, các cơ sở tim mạch ghi nhận ngày càng nhiều trường hợp nhồi máu cơ tim ở người trẻ tuổi. Độ tuổi mắc bệnh đang có xu hướng trẻ hóa, trong đó không ít bệnh nhân dưới 40 tuổi.
Nhận diện dấu hiệu nguy cơ, đến viện sớm
Theo BS Huy, nhồi máu cơ tim là tình trạng động mạch vành bị tắc nghẽn đột ngột khiến cơ tim không được cung cấp oxy và dưỡng chất.
“Mỗi phút trôi qua đều có thêm tế bào cơ tim bị hoại tử. Thời gian chính là cơ tim”, BS Huy nhấn mạnh.
Nếu người bệnh đến muộn hoặc không được cấp cứu kịp thời, nhiều biến chứng nguy hiểm có thể xảy ra như: rối loạn nhịp dẫn đến đột tử; sốc tim; vỡ tim hoặc thủng vách liên thất; huyết khối trong buồng tim gây đột quỵ hoặc tắc mạch ngoại vi, thậm chí tử vong ngay trong giai đoạn cấp.
“Vì thế, tuyệt đối không chủ quan với các dấu hiệu cảnh báo ban đầu như đau tức ngực, khó thở, mệt bất thường hoặc hồi hộp kéo dài, kể cả ở người trẻ”, BS Huy khuyến cáo.
Đặc biệt, chuyên gia cảnh báo việc hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ hàng đầu gây nhồi máu cơ tim ở người trẻ.
Như ở trường hợp này, các bác sĩ đánh giá, hút thuốc lá kéo dài là nguy cơ nổi bật nhất.
Bệnh nhân đã hút thuốc lá liên tục suốt 10 năm, từ khi mới 15 tuổi. Đây là khoảng thời gian đủ dài để làm tổn thương lớp nội mạc mạch máu, thúc đẩy quá trình xơ vữa động mạch và hình thành huyết khối.
Bác sĩ đã tư vấn người bệnh thay đổi lối sống, uống thuốc đều đặn, tái khám định kỳ và đặc biệt là cai thuốc lá hoàn toàn.
Theo các chuyên gia, ngoài thuốc lá, các yếu tố như thừa cân, béo phì, ít vận động thể lực, chế độ ăn nhiều chất béo bão hòa, đồ ăn nhanh, căng thẳng kéo dài, thức khuya thường xuyên và lạm dụng đồ uống có chất kích thích; cùng với các bệnh lý như rối loạn lipid máu, tăng huyết áp hoặc đái tháo đường không được phát hiện cũng là yếu tố làm gia tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim.
Việc duy trì lối sống lành mạnh, không hút thuốc lá, tập thể dục thường xuyên, kiểm soát cân nặng và khám sức khỏe định kỳ là những biện pháp quan trọng giúp phòng ngừa bệnh tim mạch từ sớm.
Thạc sĩ - bác sĩ Lê Tiểu Nhật, giảng viên Khoa Y học cổ truyền, Trường đại học Khoa học Sức khỏe, Đại học Quốc gia TP.HCM, cho biết, trà xanh (Camellia sinensis) là thức uống quen thuộc, đặc biệt phổ biến trong văn hóa châu Á. Thành phần hoạt tính chính của trà xanh là polyphenol, chủ yếu thuộc nhóm catechin. Trong đó, EGCG là catechin chiếm ưu thế và được nghiên cứu nhiều nhất, nhờ đặc tính chống oxy hóa mạnh.
Trong khi đó, ung thư khởi nguồn từ sự tăng sinh quá mức của các tế bào bất thường, vốn liên hệ mật thiết với các tổn thương do quá trình oxy hóa kéo dài.
Các nghiên cứu trên động vật và trong ống nghiệm cho thấy flavonoid trong trà xanh, đặc biệt là EGCG, có khả năng chống ung thư thông qua nhiều cơ chế phức tạp, không chỉ dừng ở tác dụng chống oxy hóa. Hợp chất này có thể ức chế quá trình hình thành mạch máu nuôi khối u, đồng thời các catechin còn giúp kìm hãm sự phát triển, xâm lấn và di căn của tế bào ung thư, cũng như điều hòa quá trình tăng sinh tế bào. Một số phân tích gộp gần đây cũng ghi nhận mối liên quan giữa việc tiêu thụ trà xanh hoặc các chế phẩm từ trà xanh với nguy cơ ung thư thấp hơn.
Phần lớn bằng chứng hiện nay đến từ các nghiên cứu dùng flavonoid nguyên chất (chưa qua chuyển hóa) nên chưa phản ánh đầy đủ tác dụng của trà xanh khi uống thực tế. Kết quả từ nghiên cứu trên động vật cũng khó suy rộng cho người do khác biệt về chuyển hóa và hệ vi sinh.
Các phân tích gộp cho thấy kết quả còn trái chiều, nhiều nghiên cứu cỡ mẫu nhỏ. Trà xanh chỉ có thể giúp phòng ngừa một số loại ung thư nhất định và hiệu quả còn phụ thuộc vào loại trà, cách chế biến. Ngoài ra, người uống trà xanh thường có lối sống lành mạnh hơn, dễ gây nhiễu kết quả.
Trà xanh cũng có thể gây tác dụng phụ như rối loạn tiêu hóa, mất ngủ, bồn chồn, tăng huyết áp nhẹ, độc gan nhẹ hoặc dị ứng da đặc biệt với dạng chiết xuất. Uống trà quá nóng (>65°C) còn làm tăng nguy cơ ung thư thực quản.
Theo bác sĩ Lê Tiểu Nhật, mặc dù các nghiên cứu hiện tại chưa cung cấp đủ bằng chứng xác thực để khẳng định trà xanh là "chìa khóa" tuyệt đối trong việc phòng ngừa ung thư, nhưng chúng ta không thể phủ nhận những tiềm năng sinh học và lợi ích sức khỏe mà loại thức uống này mang lại.
Thay vì xem trà xanh như một phương thuốc đặc trị, người dùng nên tiếp cận uống trà xanh như một phần của lối sống lành mạnh. Để tối ưu hóa lợi ích và hạn chế tối đa các tác dụng không mong muốn, hãy duy trì thói quen tiêu thụ trà ở mức độ vừa phải, lưu ý nhiệt độ sử dụng dưới 65 độ C, đồng thời kết hợp đồng bộ với chế độ dinh dưỡng khoa học và tầm soát sức khỏe định kỳ.
Theo bác sĩ Chu Đức Thành, khoa điều trị tích cực và chống độc Bệnh viện 19-8 (Hà Nội), chỉ trong những ngày đầu nghỉ lễ, khoa đã tiếp nhận liên tiếp 3 trường hợp ngộ độc nặng với diễn biến phức tạp, phải hồi sức tích cực.
Trường hợp đầu tiên là người bệnh ngộ độc thuốc hạ huyết áp nhóm chẹn kênh canxi (amlodipin) liều cao. Người này uống hơn 30 viên amlodipin loại 5mg và nhập viện sau khoảng 12 giờ.
Khi vào viện, bệnh nhân rơi vào tình trạng sốc giãn mạch, tụt huyết áp kháng trị và suy đa cơ quan. Các bác sĩ đã phải sử dụng đồng thời nhiều biện pháp hồi sức chuyên sâu như thuốc vận mạch liều cao, lọc máu liên tục, thay huyết tương, truyền canxi và insulin liều cao nhằm cải thiện huyết động, tăng co bóp cơ tim và hỗ trợ chuyển hóa tế bào.
Sau 24 giờ điều trị tích cực, tình trạng người bệnh đã có dấu hiệu cải thiện, tỉnh táo hơn, giảm được liều vận mạch và chức năng các cơ quan đang dần hồi phục.
Một trường hợp khác nhập viện trong tình trạng suy gan cấp nghi do dùng thuốc nam không rõ nguồn gốc. Theo người nhà, bệnh nhân bị đau khớp vai nên tự mua thuốc nam về uống trong khoảng một tháng.
Khi nhập viện, người bệnh xuất hiện vàng da rõ, suy gan cấp, rối loạn đông máu và có nguy cơ tiến triển nhanh đến hôn mê gan. Trước diễn biến nặng, các bác sĩ đã triển khai thay huyết tương cấp cứu nhằm hỗ trợ loại bỏ độc chất và giảm tổn thương gan trong giai đoạn cấp.
Ca bệnh thứ ba là người bệnh nhập viện trong tình trạng hôn mê, sốt cao, tim đập nhanh, được chẩn đoán cơn bão giáp trên nền sử dụng methamphetamin.
Theo bác sĩ Thành, methamphetamin có thể làm tăng phóng thích catecholamine, từ đó khởi phát hoặc làm nặng thêm cơn bão giáp - tình trạng nội tiết nguy hiểm có thể đe dọa tính mạng nếu không xử trí kịp thời.
Hiện người bệnh đang được hồi sức tích cực với các biện pháp an thần, thở máy, kiểm soát nhịp tim, dùng thuốc kháng giáp, corticoid và hỗ trợ đa cơ quan.
Từ các ca bệnh nhập viện liên tiếp, bác sĩ Thành cảnh báo nghỉ lễ thường là thời điểm gia tăng các trường hợp cấp cứu nặng liên quan đến ngộ độc thuốc do tự ý sử dụng hoặc dùng quá liều, thực phẩm không bảo đảm an toàn, lạm dụng rượu bia và sử dụng chất kích thích.
Khi có biểu hiện bất thường như nôn ói, đau bụng, lơ mơ, khó thở, sốt cao, co giật hoặc rối loạn ý thức sau khi dùng thuốc, ăn uống hay sử dụng chất lạ, người dân cần nhanh chóng đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế gần nhất. Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời có ý nghĩa quyết định đến tiên lượng và khả năng hồi phục của người bệnh.
Tình yêu với nghề điều dưỡng trong chị Giang Thanh lớn dần qua những buổi thực tập tại bệnh viện, qua những lần trực tiếp chăm sóc bệnh nhân. Chị nhận ra mình không chỉ hợp với việc chăm sóc y tế mà còn có một sợi dây liên kết tinh thần đặc biệt với trẻ con.
"Làm nghề này nhiều khi không nhớ nổi mình đã thức bao nhiêu đêm, nhưng lại nhớ rất rõ nụ cười của những em bé ngày xuất viện. Thấy bé cười là động lực giúp tôi theo nghề hơn 30 năm", chị Thanh chia sẻ.
Trước khi đến với vai trò điều dưỡng trưởng tại Bệnh viện Phương Nam, chị Thanh đã có 15 năm làm việc tại một bệnh viện công ở khoa bệnh nặng. Đó là quãng thời gian chị chứng kiến những em bé đứng giữa ranh giới sống chết, thấu hiểu nỗi đau và cả gánh nặng tài chính đè nặng lên vai những bậc làm cha, mẹ.
Kinh nghiệm dày dặn giúp chị có một "siêu năng lực"chẩn đoán tình trạng bệnh nhi qua nét mặt người mẹ. Với chị, điều dưỡng nhi không chỉ là chăm sóc đứa trẻ, mà còn là chăm sóc tinh thần cho cả gia đình.
"Vô thăm bệnh, chỉ cần nhìn nét mặt người mẹ thôi là chị đoán được sức khỏe đứa bé. Gương mặt tươi tắn là chắc chắn đứa bé khỏe. Còn nếu mẹ đang căng thẳng, nghĩa là em bé chưa bớt bệnh đâu”, chị kể.
Theo điều dưỡng Nguyễn Thế Giang Thanh, nhiều người vẫn nghĩ công việc của điều dưỡng nhi chỉ xoay quanh chuyện tiêm thuốc, truyền dịch. Nhưng thực tế, phía sau cánh cửa phòng bệnh là một guồng công việc dày đặc và áp lực kéo dài suốt ca trực. Mỗi ngày làm việc của điều dưỡng bắt đầu từ rất sớm bằng việc kiểm tra toàn bộ máy móc, thuốc men, vật tư y tế để bảo đảm mọi thứ luôn trong trạng thái sẵn sàng cấp cứu. Từ máy thở, monitor theo dõi, xe tiêm điện cho đến các số thuốc trong tủ trực đều phải được kiểm đếm cẩn thận.
“Chỉ cần có một ca cấp cứu xảy ra là chúng tôi phải trong tư thế sẵn sàng. Không ai được phép chủ quan”, chị Thanh nói.
Chị nhớ lại có những ca sinh non chỉ 30 tuần tuổi, nặng vỏn vẹn 1,2 kg. Đó là một hành trình "giành giật sự sống" kiên trì suốt 2 tháng trời để đưa bé chạm mốc 3 kg - một kỳ tích của cả đội ngũ y bác sĩ và gia đình.
Sau phần bàn giao giữa các ca trực là hàng loạt công việc nối tiếp nhau: tiếp nhận bệnh nhi mới, chăm sóc bệnh nhi đang điều trị, chuẩn bị trước và sau mổ, thực hiện y lệnh, hỗ trợ ăn uống, vệ sinh, theo dõi dấu hiệu sinh tồn…
Nhưng điều khiến điều dưỡng nhi áp lực nhất đôi khi không nằm ở chuyên môn, mà là sự hoảng loạn của người nhà khi con bệnh. Có những em bé chưa biết hợp tác, hay những người mẹ lần đầu có con nên hoảng loạn khi thấy con sốt cao. Những lúc ấy, người điều dưỡng phải là điểm tựa bình tĩnh nhất, vừa thực hiện đúng phác đồ, vừa là người trấn an tâm lý cho phụ huynh.
Hiện tại, với vai trò quản lý hơn 170 nhân sự (bao gồm điều dưỡng, hộ sinh, thư ký khoa và hộ lý), chị Thanh là người "giữ lửa" và định hướng lộ trình phát triển cho đội ngũ đảm bảo chất lượng chăm sóc bệnh nhân lên hàng đầu.
Chị Thanh và các đồng nghiệp đang nỗ lực triển khai "văn hóa tử tế" trong chăm sóc bệnh nhân. Đây là triết lý phụng sự từ tâm, lấy người bệnh làm trung tâm, chăm sóc với sự thấu cảm, tận tâm, trách nhiệm, tôn trọng, thân thiện và tích cực, là giá trị đặc trưng, đồng bộ trên toàn hệ thống y tế Phương Châu nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, kết hợp giữa kỹ thuật y tế chuyên sâu và chăm sóc người bệnh toàn diện.
Chị trăn trở khi xã hội vẫn chưa nhìn nhận đúng về vai trò của điều dưỡng. Với chị, điều dưỡng là những người chủ động theo dõi sát nhất tình trạng của bệnh nhân, là người đầu tiên nhận biết dấu hiệu cảnh báo sớm để chủ động đề xuất những hành động can thiệp. Họ cũng là cầu nối quan trọng giữa bác sĩ với người bệnh. Việc điều dưỡng được trao quyền sử dụng liều thuốc cấp cứu đầu tiên trong thời gian chờ bác sĩ chính là cách để tận dụng "thời gian vàng", mang lại cơ hội sống cao nhất cho bệnh nhân.
“Điều dưỡng của chúng ta. Tương lai của chúng ta. Trao quyền cho điều dưỡng để cứu sống người bệnh. Tôi rất ấn tượng với thông điệp của Hội đồng Điều dưỡng Quốc tế năm nay”, chị Thanh chia sẻ.
Sau hơn 30 năm làm nghề, trải qua biết bao đêm trực trắng đêm, những áp lực quay cuồng, chị Giang Thanh vẫn chọn ở lại với Khoa Nhi. Bởi lẽ, với chị Thanh, điều dưỡng không chỉ là một công việc kiếm sống, mà là một hành trình của sự thấu cảm, nơi mỗi nụ cười của trẻ thơ, sự an tâm của người bệnh và gia đình chính là phần thưởng lớn lao nhất mà không danh hiệu nào có thể thay thế được.