Cùng hành vi trên, P.Q.Đ (16 tuổi, ở cùng địa phương) bị khởi tố và áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.
Theo kết quả điều tra ban đầu, khoảng 20 giờ ngày 8.3, anh N.T.B (19 tuổi, ở xã Vĩnh Thuận, tỉnh An Giang) cùng nhóm bạn đến sân bóng đá mini trên đường Nguyễn Trung Trực, phường Rạch Giá để đá bóng giao hữu với đội của B.T.B.A.
Trong lúc thi đấu, P.Q.Đ thuộc đội của B.T.B.A vô tình bị đội của anh N.T.B đá bóng trúng người nên thành viên hai đội xảy ra mâu thuẫn, cự cãi.
Dù được can ngăn và đội của anh N.T.B đã xin lỗi nhưng P.Q.Đ vẫn bực tức, chạy xe máy về nhà lấy 1 thanh kiếm quay lại sân bóng để đánh đội đối thủ. Sau đó, B.T.B.A kêu P.Q.Đ chở mình về nhà B.T.B.A lấy thêm 1 thanh kiếm rồi quay lại tìm anh N.T.B.
Khi trở lại sân bóng, B.T.B.A dùng kiếm đuổi chém nhiều nhát vào vùng đầu và tay anh N.T.B gây thương tích nặng, rồi cả 2 rời khỏi hiện trường. Riêng anh N.T.B được đưa đến bệnh viện cấp cứu và điều trị.
Theo kết luận giám định pháp y ngày 22.5.2026, tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh N.T.B sau khi bị chém là 63%.
Hiện vụ cố ý gây thương tích nêu trên được Công an tỉnh An Giang tiếp tục điều tra và xử lý.
Tin Gốc: Thanh Niên
TP Hà Nội đang giải phóng mặt bằng 1.428 dự án, trong đó có nhiều công trình giao thông lớn như 4 cầu vượt sông Hồng (Hồng Hà, Mễ Sở, Vân Phúc và Ngọc Hồi); khép kín các đường vành đai, mở rộng quốc lộ 1, 6... Lượng phế thải xây dựng phát sinh trên 10.000 tấn mỗi ngày, gấp 4-5 lần bình thường, bao gồm bêtông, gạch, đá, vữa, kim loại, gỗ, nhựa, kính, đất đào, bùn thải...
Khác với rác sinh hoạt, phế thải xây dựng được xem là nguồn tài nguyên thứ cấp bởi phần lớn thành phần còn giá trị sử dụng sau khi được phân loại và xử lý phù hợp. Sau khi nghiền, sàng và xử lý, phế thải có thể trở thành cốt liệu cho nền đường, vật liệu san lấp mặt bằng, sản xuất gạch không nung, bêtông, vật liệu sản xuất cấu kiện xây dựng.
Theo ông Nguyễn Văn Hoan, chuyên gia Viện Chuyên ngành Xi măng bêtông (Viện Vật liệu xây dựng), khoảng 80% chất thải rắn đô thị đang bị chôn lấp, chỉ gần 17% được tái chế dưới dạng nghiền nhỏ để phục vụ san lấp hoặc vật liệu nền đường. Tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với tiềm năng sử dụng của loại chất thải gồm đất đá, bêtông, gạch vụn.
Sử dụng vật liệu tái chế giúp giảm tình trạng khai thác đá, cát sông, đất đắp và các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng. "Trong bối cảnh nguồn cát và đá ngày càng khan hiếm, đây là nguồn nguyên liệu rất đáng giá", ông Hoan nói.
Hiện cốt liệu tái chế dùng để san lấp nền đường - loại giá trị thấp nhất, được bán từ 70.000 đến 100.000 đồng/tấn. Cốt liệu hạt, cát nghiền tái chế giá từ 150.000 đến 200.000 đồng/m3. Nếu Hà Nội tái chế được 10.000 tấn phế thải xây dựng để san lấp nền mỗi ngày, ít nhất có thể thu về khoảng 0,7-1 tỷ đồng.
Các nghiên cứu cho thấy vật liệu tái chế có giá thành thấp hơn khoảng 20% so với vật liệu tự nhiên. Tỷ lệ tái chế phế thải xây dựng có thể đạt trên 90% khối lượng đầu vào, riêng bêtông nhựa và bêtông xi măng có thể tái sử dụng gần như 100%, theo PGS.TS Tống Tôn Kiên, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu và Ứng dụng vật liệu xây dựng nhiệt đới (Đại học Xây dựng).
Quan trọng hơn, nguồn vật liệu tái chế giúp thay thế nguồn vật liệu tự nhiên đang ngày càng cạn kiệt. Tại Hà Nội, hàng loạt công trình đang triển khai đều có nhu cầu lớn về cát vàng, cát xây, đất đắp. Đơn cử dự án vành đai 4 vùng Thủ đô thiếu khoảng 6 triệu m3 đất đắp và khối lượng lớn cát, đá xây dựng. Trong khi đó sản lượng khai thác tại các mỏ vật liệu ở Hà Nội không đủ, buộc nhà thầu phải mua vật liệu từ mỏ tại tỉnh Phú Thọ, tăng chi phí vận chuyển.
Công nghệ biến phế thải thành tiền
Thấy được tiềm năng của phế thải rắn xây dựng, ngành xây dựng đã nhiều năm nghiên cứu, thử nghiệm vật liệu xây dựng tái chế và ban hành cơ bản hệ thống tiêu chuẩn. Những nghiên cứu đầu tiên được triển khai từ năm 2007, do TS Lê Việt Hùng (Viện Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng) thực hiện. Giai đoạn đầu, nhóm tập trung đánh giá khả năng nghiền, sàng phế thải xây dựng để tái chế thành vật liệu đầu vào cho vữa và bêtông.
Năm 2012, dự án sản xuất thử nghiệm "Hoàn thiện công nghệ tái chế phế thải phá dỡ công trình làm cốt liệu cho xây dựng" đã triển khai thành công dây chuyền sản xuất cốt liệu tái chế ở quy mô công nghiệp. Dây chuyền tạo ra cốt liệu tái chế từ phế thải phá dỡ (bêtông, tường xây gạch), cốt liệu nhỏ được sử dụng sản xuất gạch không nung, còn cốt liệu lớn có kích thước đến 40 mm được dùng thay đá dăm để sản xuất bêtông.
Tại Đại học Xây dựng, PGS.TS Tống Tôn Kiên, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu và Ứng dụng vật liệu xây dựng nhiệt đới, cho biết giai đoạn 2012-2016, nhóm nghiên cứu của trường đã thực hiện hàng loạt đề tài nghiên cứu chuyên sâu về sử dụng cốt liệu tái chế thành đá dăm và cát để sản xuất vữa và bêtông xi măng chịu lực. Giai đoạn 2019-2021, nhóm tiếp tục sản xuất thử cấu kiện bêtông cốt thép đúc sẵn từ phế thải bêtông trong phòng thí nghiệm. Kết quả cho thấy vật liệu tái chế có thể sử dụng trong các công trình.
Để đưa cốt liệu tái chế vào cuộc sống, các bộ ngành đã ban hành hệ thống tiêu chuẩn. Năm 2023, tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13694 ra đời, quy định cấp phối vật liệu tái chế dùng làm lớp móng đường giao thông đô thị. TCVN 11969:2018 quy định cốt liệu lớn tái chế cho bêtông. Nhiều tiêu chuẩn liên quan vật liệu san lấp, tái chế bêtông nhựa, thiết kế hỗn hợp và thi công cũng đã được Bộ Khoa học và Công nghệ thông qua giai đoạn 2020-2025.
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Văn Hoan, chuyên gia Viện chuyên ngành Xi măng bê tông (Viện Vật liệu xây dựng), trở ngại của Hà Nội hiện không nằm ở công nghệ xử lý. Một số doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư dây chuyền tái chế hiện đại, thậm chí có thiết bị nghiền di động xử lý ngay tại công trường. Tuy nhiên, đầu ra sản phẩm tái chế chưa ổn định. Nhiều chủ đầu tư và nhà thầu vẫn e ngại chất lượng, độ bền của sản phẩm.
Hà Nội cũng như phần lớn địa phương chưa có quy hoạch riêng cho chất thải rắn xây dựng hoặc quy hoạch vị trí thu gom, xử lý ngoài đê sông khiến doanh nghiệp khó thực hiện dự án. Đơn vị xử lý chất thải rắn công suất trên 500 tấn/ngày phải đánh giá tác động môi trường, phê duyệt báo cáo tác động và có giấy phép môi trường, hệ thống quan trắc tự động..., gây khó khăn cho doanh nghiệp.
Đặc biệt, chi phí sản xuất cao khiến một số doanh nghiệp e ngại đầu tư. Phần lớn phế thải hiện nay từ các công trình thường bị đổ lẫn bêtông, gạch, đất, kim loại và bùn thải. Khi đưa về xử lý, doanh nghiệp phải tốn thêm nhân công và chi phí phân loại. Theo tính toán của Công ty Cổ phần dịch vụ sản xuất Toàn Cầu, chi phí sản xuất tái chế vật liệu đắp nền khoảng 100.000-110.000 đồng/tấn, bao gồm phí đầu tư thiết bị, nhân công sản xuất, chi phí phân loại...
Làm gì để khai thác tài nguyên phế thải xây dựng?
Để giải quyết bài toán chất thải rắn xây dựng, theo PGS.TS Tống Tôn Kiên, trước hết địa phương cần quy hoạch quỹ đất dành riêng cho các khu xử lý, bãi tập kết tái chế. Khi có hạ tầng tiếp nhận phù hợp, việc xử lý loại chất thải không quá phức tạp. Kế đó, cần có quy định bắt buộc phân loại chất thải xây dựng tại nguồn, quy định rõ trách nhiệm chuyển giao cho các đơn vị xử lý được cấp phép. Chủ nguồn thải phải chi trả đầy đủ chi phí xử lý.
Một giải pháp quan trọng khác là thúc đẩy thị trường vật liệu tái chế. Hiện Việt Nam đã có khung chính sách khuyến khích nhưng chưa đủ cụ thể và hấp dẫn để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư. Theo ông Kiên, cần có cơ chế ưu đãi mạnh hơn đối với các doanh nghiệp sản xuất vật liệu tái chế, đồng thời phát triển các trung tâm xử lý có quy mô đủ lớn, công suất tối thiểu 500-1.000 tấn mỗi ngày để bảo đảm hiệu quả kinh tế.
Bên cạnh đó, chính sách mua sắm công cần đóng vai trò dẫn dắt thị trường. Các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước nên được quy định tỷ lệ bắt buộc sử dụng vật liệu tái chế trong xây dựng. Điều này đặc biệt phù hợp với các đô thị lớn, nơi nguồn vật liệu tự nhiên khan hiếm và phải vận chuyển từ xa, trong khi nhu cầu tiêu thụ vật liệu xây dựng rất lớn.
Dẫn kinh nghiệm từ Nhật Bản và Anh, ông Kiên cho biết các thành phố thường quy hoạch nhiều điểm tiếp nhận phế thải xây dựng. Đối với vật liệu đã được phân loại, các cơ sở tái chế thậm chí hỗ trợ chi phí vận chuyển hoặc trả tiền cho đơn vị thu gom. Ngược lại, vật liệu chưa được phân loại sẽ được đưa tới các cơ sở chuyên trách để phân loại và tái chế trước khi đưa vào sử dụng trở lại.
Ngoài ra, Nhà nước có thể nghiên cứu áp dụng cơ chế tín chỉ carbon đối với vật liệu tái chế nhằm ghi nhận giá trị giảm phát thải, tạo thêm nguồn thu cho doanh nghiệp. Song song với đó là các chương trình hỗ trợ nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ để nâng cao hiệu quả tái chế chất thải xây dựng, hướng tới phát triển kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng.
Chuyên gia Nguyễn Văn Hoan nhận định Hà Nội cần đồng thời mở rộng quy hoạch bãi tiếp nhận, siết kiểm soát đổ trộm, bắt buộc phân loại tại công trường và từng bước đưa vật liệu tái chế vào các dự án đầu tư công. Nếu không trong 5-10 năm tới thành phố sẽ đối mặt áp lực lớn về bãi đổ, ô nhiễm môi trường và thiếu nguồn vật liệu tự nhiên như cát, đá, đất san lấp.
Tin Gốc: Vnexpress

Ngày 11.5, tin từ Thanh tra tỉnh Cà Mau, đơn vị này vừa công bố quyết định việc thanh tra chuyên đề các dự án khó khăn, vướng mắc, tồn đọng kéo dài trên địa bàn.
Theo quyết định, thời kỳ thanh tra được xác định từ khi triển khai công trình, dự án đến ngày 31.3.2026. Trường hợp cần thiết, đoàn thanh tra có thể xem xét thêm các nội dung liên quan trước hoặc sau thời kỳ thanh tra. Thời hạn thanh tra là 30 ngày làm việc trực tiếp kể từ ngày công bố quyết định.
Đáng chú ý của cuộc thanh tra lần này là quy mô nhân sự lớn hiếm thấy. Đoàn thanh tra do ông Nguyễn Thanh Toản, Phó chánh Thanh tra tỉnh Cà Mau, làm trưởng đoàn; cùng 8 phó trưởng đoàn và hơn 80 thành viên là trưởng, phó phòng nghiệp vụ, thanh tra viên thuộc nhiều lĩnh vực như xây dựng, tài chính, công thương, khoa học - công nghệ, y tế, giáo dục, môi trường, nội vụ. Tổng số cán bộ tham gia đoàn thanh tra là 90 người. Được biết, đoàn thanh tra sẽ thanh tra 49 dự án.
Trước đó, quyết định thanh tra được ban hành trên cơ sở Kế hoạch số 1158/KH-TTCP ngày 22.4.2026 của Thanh tra Chính phủ về thanh tra chuyên đề các dự án có khó khăn, vướng mắc, tồn đọng kéo dài và ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau tại Công văn số 5697/UBND-NC ngày 20.4.2026.
Tin Gốc: Thanh Niên
Thời Sự
Thu nhập không theo kịp chi phí sinh hoạt, đề xuất tăng lương tối thiểu đến 9,8%

Chiều 23.6, Hội đồng Tiền lương quốc gia đã họp phiên thứ nhất về phương án tiền lương tối thiểu năm 2027.
Tại phiên họp này, Tổng LĐLĐ Việt Nam đề xuất 2 phương án tăng tăng 8,5% và 9,8% so với năm 2026. Thời điểm tăng từ 1.1.2027.
Theo đó, phương án 1 đề xuất tăng lương tối thiểu vùng từ 360.000 - 520.000 đồng/tháng, tương ứng mức tăng bình quân 9,8%.
Phương án 2 đề xuất tăng từ 315.000 - 450.000 đồng/tháng, bình quân tăng 8,5%.
Đối với lương tối thiểu giờ, Tổng LĐLĐ Việt Nam kiến nghị xác định mức lương tối thiểu theo giờ trên cơ sở quy đổi từ lương tối thiểu tháng và áp dụng hệ số điều chỉnh phù hợp.
Chia sẻ thêm với báo chí, bà Trần Thị Thanh Hà, Phó trưởng ban Quan hệ lao động (Tổng LĐLĐ Việt Nam), cho hay căn cứ để xây dựng 2 phương án đề xuất điều chỉnh lương tối thiểu vùng 2027 dựa trên tăng trưởng về GDP, chỉ số giá tiêu dùng (CPI), năng suất lao động và các yếu tố tác động đến doanh nghiệp làm căn cứ có đề xuất điều chỉnh lương tối thiểu vùng.
Cạnh đó, 40% doanh nghiệp vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng và 24% doanh nghiệp nói sẽ mở rộng sản xuất.
"Mức lương tối thiểu hiện nay đang lạc hậu so với tình hình thực tế. Mức tăng theo đề xuất trên là tương đối để đảm bảo được mức sống cơ bản cho công nhân, lao động", bà Hà chia sẻ.
Trong khi đó, ông Hoàng Quang Phòng, Phó chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), lại cho rằng nếu tăng từ 1.1.2027 thì hơi gấp, không đủ thời gian thích ứng cho cộng đồng doanh nghiệp. Do vậy, thời điểm tăng lương mà các doanh nghiệp mong muốn là 1.7.2027.
Đồng tình với việc cần thiết phải điều chỉnh tiền lương tối thiểu, song đại diện VCCI cho biết đang thăm dò, chưa đề xuất mức điều chỉnh chính thức.
"Doanh nghiệp khó khăn do tình hình áp thuế, tình hình lao động… Nếu điều chỉnh tiền lương cao quá thì chi phí sẽ đội lên, vì vậy phải cân bằng lợi ích. Hội đồng Tiền lương quốc gia sẽ họp, thảo luận kỹ về thời điểm điều chỉnh, tỷ lệ phù hợp", ông Phòng bày tỏ.
Bình luận về phương án đề xuất của Tổng LĐLĐ Việt Nam, ông Phạm Minh Huân, nguyên Thứ trưởng Bộ LĐ-TB-XH (nay là Bộ Nội vụ), nhìn nhận tăng lương ở mức cao là tốt cho người lao động. Trên cơ sở xu hướng tăng dần, mức lương tối thiểu tăng bù trượt giá, đảm bảo tiền lương thực tế.
Tuy nhiên, cũng phải xem doanh nghiệp có có đủ sức tăng hay không mới là quan trọng. Theo ông Huân, hiện nay các doanh nghiệp như dệt may, da giày, thủy sản… biên độ lợi nhuận rất mỏng. Trong khi đó, giá cả vật liệu tăng, giá điện, cước vận tải tăng… sẽ đổ dồn hết chi phí vào doanh nghiệp.
"Các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chủ yếu là gia công, để "nuôi" doanh nghiệp, cần phải giữ lợi thế cạnh tranh với các nước trong khu vực. Vì vậy, phương án tăng lương tối thiểu phải thật cân đối, hài hòa", ông Huân nói.
Tin Gốc: Thanh Niên

