Ngày 15/5, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình cho biết, Khoa Thăm dò chức năng của bệnh viện đã tiếp nhận trường hợp bệnh nhân nữ, 31 tuổi, nhập viện trong tình trạng nuốt phải bàn chải khi vệ sinh lưỡi.
Qua thăm khám và nội soi ống tiêu hóa, các bác sĩ phát hiện dị vật mắc kẹt trong lòng dạ dày. Sau khi hội chẩn, ê-kíp đã nhanh chóng thực hiện thủ thuật nội soi can thiệp và gắp thành công dị vật là một chiếc bàn chải dài khoảng 20cm, đường kính lớn nhất khoảng 3cm, còn nguyên vẹn ra ngoài an toàn.
Sau thủ thuật, bệnh nhân tỉnh táo, không đau đớn, thể trạng ổn định và được xuất viện trong ngày.
Trường hợp trên cũng là lời cảnh báo đối với những người thường xuyên có phản xạ buồn nôn, nôn ói hoặc mắc bệnh lý trào ngược dạ dày – thực quản. Khi đánh răng, vệ sinh lưỡi hoặc đưa các dụng cụ vào khoang miệng cần thực hiện cẩn thận để tránh dị vật bị nuốt vào đường tiêu hóa, gây nguy hiểm.
Người dân khi có các biểu hiện bất thường liên quan đến đường tiêu hóa hoặc nghi ngờ nuốt phải dị vật cần đến cơ sở y tế để được thăm khám và xử trí kịp thời, tránh các biến chứng đáng tiếc có thể xảy ra.
Tin Gốc: Người Đưa Tin
Gia Đình
Với sinh viên khuyết tật ở trường đại học, giáo dục theo kiểu cảm thông là không đủ

Giáo dục hòa nhập cho đến nay vẫn thường bị hiểu khá đơn giản là đưa sinh viên khuyết tật vào học chung trường, chung lớp với sinh viên không có khuyết tật. Nhưng việc được chấp nhận vào học không đồng nghĩa với được hòa nhập.
Một sinh viên có thể hiện diện trong lớp học, nhưng vẫn bị loại trừ khỏi những cơ hội học tập.
Trong gần 5 năm làm công việc hỗ trợ sinh viên khuyết tật tại một trường đại học quốc tế, tôi đã đồng hành cùng nhiều sinh viên với những dạng khuyết tật và tình trạng sức khỏe rất khác nhau. Mỗi bạn là một câu chuyện riêng, với những khó khăn rất riêng trong học tập và sinh hoạt, và với những nhu cầu hỗ trợ cũng rất riêng.
Tôi vẫn nhớ một bạn sinh viên khiếm thị bối rối trong lớp khi giảng viên bất ngờ yêu cầu tất cả sinh viên phải liên tục di chuyển từ bàn này sang bàn khác và trả lời những câu hỏi trắc nghiệm chỉ trong 30 giây - khoảng thời gian quá ngắn để người hỗ trợ kịp đọc đáp án cho bạn lựa chọn.
Tôi nhớ một sinh viên sử dụng xe lăn học rất giỏi nhưng chưa từng một lần được tham gia ngày hội thể thao cùng bạn bè, chỉ vì tất cả các hoạt động đều mặc định đòi hỏi thể lực và không ai nghĩ tới việc thiết kế để em có thể tham gia.
Tôi cũng nhớ những sinh viên rối loạn phổ tự kỷ, hoặc có rối loạn ngôn ngữ, hoảng hốt mỗi khi nhìn thấy yêu cầu phải thuyết trình trước lớp. Những tình huống ấy cho thấy rào cản không chỉ nằm ở cơ thể hay tình trạng sức khỏe của người học, mà còn nằm ở cách môi trường học tập được thiết kế.
Cũng cần nói rõ rằng đây không chỉ là vấn đề của riêng sinh viên khuyết tật. Giáo dục hòa nhập thực chất cần nhìn thấy sự giao thoa giữa khuyết tật với những yếu tố khác như giới, điều kiện kinh tế, nơi sinh sống và cơ hội tiếp cận dịch vụ.
Khi cơ hội giáo dục bị hạn chế, cơ hội việc làm cũng bị thu hẹp theo.
Năm 2023, tỉ lệ tham gia lực lượng lao động của người khuyết tật chỉ là 23,9%, thấp hơn rất nhiều so với mức 77,4% ở người không khuyết tật; khoảng cách này đặc biệt lớn ở nhóm tuổi 18-40.
Nói cách khác, khuyết tật là một trong những "phép thử" rõ ràng nhất để nhìn ra liệu một hệ thống giáo dục có thực sự sẵn sàng cho sự đa dạng, hay vẫn đang âm thầm ưu tiên một nhóm người học "kiểu mẫu" và bỏ lại phía sau những người khác.
Các cơ sở giáo dục hiện nay thường coi việc tạo cơ hội học tập công bằng cho sinh viên khuyết tật chủ yếu là những điều chỉnh đơn lẻ cho từng cá nhân khi có yêu cầu.
Những điều chỉnh này dĩ nhiên rất cần thiết: thêm thời gian làm bài cho sinh viên có khó khăn về vận động; cung cấp tài liệu điện tử cho sinh viên khiếm thị; cho phép trình bày theo hình thức phù hợp hơn với sinh viên có khó khăn về giao tiếp.
Nhiều sinh viên sẽ không thể học tập hoặc hoàn thành chương trình nếu không có những hỗ trợ đó. Nhưng nếu hòa nhập chỉ phụ thuộc vào việc sinh viên phải tự giải trình, tự chứng minh và lặp đi lặp lại khó khăn của mình với từng môn học, từng giảng viên, thì gánh nặng vẫn đang được đặt nhiều hơn lên vai người học mà không có những cân nhắc chủ động từ phía hệ thống.
Trong bối cảnh Việt Nam, không phải sinh viên nào cũng dễ dàng có giấy tờ xác nhận "loại khuyết tật", đặc biệt với những tình trạng như khuyết tật học tập, rối loạn phát triển thần kinh hay các vấn đề sức khỏe tâm thần.
Bên cạnh đó là những định kiến rất quen thuộc: rằng người xin hỗ trợ là "yếu đuổi", là "không đủ cố gắng", là "không đủ năng lực", thậm chí là đang đòi hỏi sự ưu ái quá mức. Chính những rào cản đó khiến nhiều sinh viên chọn im lặng, tự xoay xở một mình, cho đến khi các em kiệt sức hoặc bị bỏ lại phía sau.
Khi một hệ thống được thiết kế mà phụ thuộc quá nhiều vào các điều chỉnh cho từng cá nhân, thì sẽ luôn có rất nhiều sinh viên không bao giờ đi được đến bước nhận hỗ trợ. Đó là lý do vì sao giáo dục hòa nhập cần vượt lên trên những câu chuyện về sự cảm thông và những hỗ trợ mang tính "chữa cháy".
Điều chúng ta cần nói đến nhiều hơn là việc chủ động thiết kế hoạt động dạy học để thúc đẩy hòa nhập công bằng ngay từ đầu.
Giảng viên cần chuẩn bị tài liệu ở các định dạng tiếp cận hơn; sử dụng nhiều cách truyền đạt khác nhau thay vì chỉ dựa vào một hình thức duy nhất; thiết kế các hoạt động học tập linh hoạt để sinh viên có thể tham gia bằng nhiều cách; và xây dựng các hình thức đánh giá hơn để người học thể hiện được năng lực thực sự của mình.
Khi một lớp học được thiết kế theo hướng đó, không chỉ sinh viên khuyết tật được hưởng lợi. Sinh viên có lo âu, trầm cảm, rối loạn phổ tự kỷ hay giảm chú ý, bệnh lý mãn tính, hay đơn giản là có những cách học khác với số đông, cũng có thêm cơ hội để học tốt hơn. Hòa nhập không phải là sự ưu tiên dành cho một nhóm nhỏ; đó là cách làm giáo dục tốt hơn cho tất cả mọi người.
Nhưng để làm được điều đó, không thể chỉ trông chờ vào thiện chí của một vài giảng viên hay nỗ lực của một phòng ban chuyên trách.
Giảng viên và cán bộ nhân viên cũng cần được hỗ trợ một cách thực chất: được tập huấn, được cung cấp tài liệu, được tạo điều kiện về thời gian và cơ chế để linh hoạt hơn trong giảng dạy và đánh giá.
Sẽ là không đủ nếu chúng ta chỉ nói với giảng viên rằng họ cần phải "tạo điều kiện cho sinh viên nhiều hơn" mà không đi kèm với những hỗ trợ tương xứng.
Hòa nhập không nên là gánh nặng riêng của sinh viên khuyết tật, cũng không nên trở thành phần việc "làm thêm" của giảng viên. Đó phải là trách nhiệm chung của cả một cơ sở giáo dục.
Khi ngày càng nhiều sinh viên có cơ hội bước vào giảng đường đại học, sự đa dạng trong lớp học cũng sẽ ngày càng trở thành một thực tế hiển nhiên. Và khi đó, hòa nhập không thể tiếp tục được xem là sự ban ơn cho một nhóm thiểu số. Nó cần được nhìn nhận đúng như bản chất: một thước đo quan trọng của chất lượng giáo dục và của mức độ tiến bộ của một xã hội.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Với kinh nghiệm của một huấn luyện viên yoga, Thanh Huyền đã mở lớp yoga trực tuyến miễn phí dành cho bệnh nhân đang điều trị ung thư. Chị gọi ấy là lớp học của những "chiến binh K".
Chừng 5 năm trước trong một lần khám sức khỏe định kỳ, Huyền bất ngờ nhận chẩn đoán có khối u ác tính tuyến giáp. Đó là cú sốc không dễ chấp nhận với một huấn luyện viên yoga như chị. Cuộc sống như đảo lộn khi cô gái trẻ buộc phải gác lại công việc, bắt đầu hành trình điều trị mà Huyền nhớ rằng mọi thứ như suy sụp vì không biết phải làm gì tiếp theo.
Những ngày đầu trong bệnh viện là chuỗi ngày hụt hẫng và hoang mang. Song khi thấy nhiều bệnh nhân khác cũng đang chiến đấu với bệnh tật, Huyền dần ổn định tâm lý hơn và bắt đầu thay đổi suy nghĩ. Cô duy trì thói quen tập yoga để cải thiện thể chất, giữ tinh thần lạc quan.
Hình ảnh cô gái trẻ đều đặn trải thảm tập yoga mỗi ngày nhanh chóng thu hút sự chú ý tại bệnh viện. Có người tò mò hỏi thăm, người xin tập cùng. Những buổi tập nhỏ dần hình thành ngay tại phòng bệnh.
Thanh Huyền nhận ra nhiều bệnh nhân khi xuất viện vẫn cần môi trường vận động nhưng không phải ai cũng có điều kiện đến các trung tâm thể thao, nhất là người ở xa hay sức khỏe yếu.
"Tôi nghĩ mình có thể mở lớp yoga miễn phí chừng ba tháng cũng đủ để mọi người nắm kiến thức và kỹ thuật cơ bản. Còn sau đó họ có thể tự tập tại nhà hoặc chọn khóa học phù hợp với lịch trình cá nhân", Huyền bộc bạch.
Thêm bạn bè động viên, Huyền chia sẻ thông tin lớp học trên các hội nhóm hỗ trợ bệnh nhân ung thư rồi nhờ bác sĩ giới thiệu thêm. Nhưng chính việc miễn phí lại khiến không ít người e dè, thậm chí còn bị nghi lừa đảo và nhắn hỏi thẳng: "Có thật là miễn phí không?". Nhiều người nhắn tin hỏi nhưng khi Huyền gửi link lớp học lại không tham gia.
Nhưng cũng còn nhiều bệnh nhân tin và tham gia tập luyện mà khóa đầu tiên hoàn thành với nhu cầu của người bệnh đông hơn Huyền dự tính. Từ lớp ban đầu chỉ dành cho bệnh nhân ung thư tuyến giáp, dự án dần mở rộng cho bệnh nhân đang điều trị nhiều căn bệnh khác miễn họ có nhu cầu muốn tập yoga.
Việc mở rộng người học đi kèm áp lực chuyên môn, không thể chỉ một giáo án cố định mà mỗi buổi tập đều phải nghiên cứu kỹ bởi tùy giai đoạn điều trị khác nhau cần giáo án linh hoạt cho người tham gia. Huyền quan sát màn hình từng buổi học trực tuyến, chỉ cần thấy học viên có dấu hiệu mệt mỏi hay đau đớn sẽ điều chỉnh bài tập hoặc dừng lại ngay.
Làm sao mọi người thấy vui khỏe chứ không phải cố tập hết sức là điều Huyền tâm niệm. Huyền nói nhiều cô chú chỉ cần duy trì 15 phút vận động mỗi ngày đã là nỗ lực rất lớn. Thoáng cái mà lớp yoga của Huyền đã qua ba năm, trở thành điểm hẹn quen thuộc của nhiều bệnh nhân ung thư nhiều tỉnh thành cả nước.
Mỗi khóa học chừng 15-20 học viên. Niềm vui là dự án dần lan tỏa, thu hút thêm một vài huấn luyện viên yoga khác tình nguyện tham gia, tiếp thêm nguồn lực để duy trì lớp học lâu dài. Bà Hồ Thị Vân Anh bị ung thư vú kể biết đến dự án trong thời gian truyền hóa chất.
"Tình cờ thấy thông tin lớp yoga của cô Huyền trên Facebook, tôi quyết định tham gia và theo lớp hơn nửa năm nay. Nhờ vậy giúp tôi ăn ngon miệng hơn, tinh thần cũng trở nên thoải mái", bà Anh bày tỏ.
Một bệnh nhân ung thư khác, bà Vũ Thị Thu nói tham gia vì học trực tuyến khá tiện lợi, có thể chủ động sắp xếp thời gian mà không phải di chuyển.
"Thời gian đầu có hơi quá sức nhưng nhờ sự hướng dẫn tận tình của các huấn luyện viên nên tôi dần theo kịp. Không chỉ sức khỏe mà tinh thần của tôi cũng cải thiện đáng kể, giúp tôi có thêm động lực trên hành trình chữa bệnh", bà Thu nói.
Nguồn: https://tuoitre.vn/lop-yoga-mien-phi-cua-benh-nhan-ung-thu-20260405094627889.htm

Các tiêu chuẩn này tập trung vào yêu cầu về chất lượng, an toàn và điều kiện sản xuất, đồng thời tham chiếu các khung quản lý từ các tổ chức quốc tế trên toàn cầu nhằm bảo đảm tính tương thích luật quốc tế và hỗ trợ thương mại. Toàn bộ quá trình dự kiến hoàn tất trong khoảng 22 tháng hoặc sớm hơn.
Theo định hướng, TLNN nhiều khả năng sẽ chịu sự điều tiết tương tự thuốc lá điếu truyền thống, trong khi túi ngậm nicotine cũng được cơ quan quản lý xác định là một dạng sản phẩm thuốc lá. Điều này đồng nghĩa toàn bộ chuỗi giá trị, từ sản xuất, phân phối đến kiểm soát thị trường các sản phẩm này sẽ được đặt dưới sự giám sát của hệ thống độc quyền Nhà nước tương tự như mô hình quản lý thuốc lá điếu.
Trung Quốc đang hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn quốc gia đối với thuốc lá nung nóng và túi nicotine, từ đó chuẩn bị lộ trình đưa các sản phẩm này vào thị trường chính thức. Ảnh: 2Firsts
Về thời gian thí điểm, dự kiến từ nửa cuối năm 2026 đến nửa đầu năm 2027, Trung Quốc sẽ đưa túi ngậm nicotine ra thị trường vì công nghệ đơn giản, còn TLNN sẽ triển khai vào cuối năm nay.
Sau giai đoạn này, việc thương mại hóa chính thức được kỳ vọng diễn ra từ năm 2027–2028, khi toàn bộ hệ thống tiêu chuẩn, cấp phép và giám sát được kích hoạt đồng bộ.
Về lộ trình xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật, dự kiến hoàn thành trong khoảng 22 tháng, nhanh hơn so với chu kỳ thông thường. Đáng chú ý, bộ tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia sẽ có sự tham gia của doanh nghiệp bên cạnh cơ quan quản lý.
Để bộ tiêu chuẩn kỹ thuật hài hòa thông lệ quốc tế, tạo điều kiện cho lưu thông toàn cầu dài hạn và yêu cầu trong nước, Trung Quốc cũng tham vấn thêm tiêu chuẩn kỹ thuật từ các quốc gia đi trước gồm có Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA), Liên minh Châu Âu (EU) và cả hướng dẫn từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).
Động thái này của Trung Quốc không chỉ đến từ yêu cầu quản lý mà còn gắn với bài toán tăng trưởng của ngành thuốc lá, hiện đang đóng góp hơn 1,6 nghìn tỷ nhân dân tệ mỗi năm. Các sản phẩm không khói được xem là hướng đi chiến lược trong bối cảnh tỉ lệ người hút thuốc chuyển đổi từ thuốc lá truyền thống ngày càng gia tăng trong nước và trên toàn cầu.
Các chuyên gia dự báo, tỷ lệ người dùng TLNN tại Trung Quốc có thể đạt khoảng 5% trong 3–5 năm đầu và tăng lên 20–30% trong dài hạn, tiệm cận xu hướng tại các thị trường phát triển.
Tại Hoa Kỳ, mọi sản phẩm TLNN muốn được lưu hành hợp pháp đều phải trải qua quy trình tiền kiểm nghiệm chặt chẽ (PMTA) từ FDA. Theo quy định, doanh nghiệp phải cung cấp dữ liệu khoa học đầy đủ để chứng minh sản phẩm "phù hợp để bảo vệ sức khỏe cộng đồng", trong đó FDA đánh giá cả tác động đối với người sử dụng và không sử dụng thuốc lá, cũng như ảnh hưởng ở cấp độ toàn dân số. Hồ sơ PMTA yêu cầu các thông tin chi tiết về thành phần, khí dung phát thải, độc tính, quy trình sản xuất và hành vi người tiêu dùng, nhằm xác định mức độ rủi ro và lợi ích tổng thể của từng sản phẩm đối với từng doanh nghiệp.
Ngoài ra, FDA còn thiết lập cơ chế Điều chỉnh Mức độ Nguy cơ (MRTP) nhằm kiểm soát chặt chẽ các tuyên bố liên quan đến khả năng giảm tác hại của sản phẩm. Theo luật, doanh nghiệp chỉ được phép truyền thông về khả năng "Giảm phơi nhiễm với chất gây hại" hoặc "Giảm nguy cơ bệnh tật" khi chứng minh được rằng sản phẩm mang lại lợi ích sức khỏe ở cấp độ cá nhân và dân số, đồng thời không làm gia tăng việc sử dụng trong nhóm không hút thuốc.
Trong khi đó, Liên minh châu Âu xây dựng khung quản lý thống nhất thông qua Chỉ thị Quản lý Sản phẩm Thuốc lá (TPD), điều chỉnh toàn bộ vòng đời sản phẩm từ sản xuất đến phân phối. Theo TPD, các nhà sản xuất phải khai báo chi tiết về thành phần, khí thải và dữ liệu độc tính trước khi đưa sản phẩm ra thị trường, đồng thời tuân thủ nghĩa vụ báo cáo định kỳ và cung cấp thông tin về doanh số. Bên cạnh đó, các sản phẩm phải đáp ứng yêu cầu về cảnh báo sức khỏe, nhãn mác và truy xuất nguồn gốc nhằm hỗ trợ kiểm soát thị trường và chống buôn lậu.
Đối với TLNN, EU đã tăng cường siết chặt khung pháp lý thông qua Chỉ thị bổ sung năm 2022, đưa sản phẩm này vào nhóm "sản phẩm thuốc lá mới" và áp dụng các hạn chế chặt chẽ, bao gồm việc cấm các sản phẩm có hương vị đặc trưng và yêu cầu cảnh báo sức khỏe tương đương thuốc lá truyền thống.
WHO vẫn giữ quan điểm tương đối thận trọng với TLNN khi khuyến nghị quản lý tương tự như thuốc lá điếu trong khuôn khổ FCTC, bao gồm cảnh báo sức khỏe, hạn chế quảng cáo, kiểm soát sử dụng và chính sách thuế. Về kỹ thuật, việc đánh giá tập trung vào thành phần khí hơi, mức độ phơi nhiễm và áp dụng nguyên tắc phòng ngừa trong bối cảnh dữ liệu dài hạn còn hạn chế.
Đáng chú ý, báo cáo mới nhất của Nhóm Kỹ thuật TobReg thuộc WHO ghi nhận TLNN có xu hướng ít thu hút giới trẻ hơn so với cả thuốc lá điếu và mọi sản phẩm thuốc lá khác, nhưng nhấn mạnh điều này không đồng nghĩa là sản phẩm này an toàn, vẫn cần kiểm soát chặt để hạn chế tiếp cận của thanh thiếu niên.
Báo cáo lần thứ 10 của Ban Kỹ thuật WHO TobReg cuối năm 2025 đánh giá thuốc lá nung nóng có ít đặc điểm hấp dẫn giới trẻ nhất trong mọi loại sản phẩm nicotine. (Nguồn: WHO)
Tin Gốc: Người Đưa Tin

