Tuy nhiên, cuộc thi vẫn còn những vấn đề về tính trung thực và liêm chính khoa học cần có giải pháp hiệu quả.
Trước năm 2012, hoạt động nghiên cứu khoa học kỹ thuật (KHKT) của học sinh (HS) phổ thông ở VN chủ yếu mang tính phong trào, tự phát, thiếu chuẩn mực khoa học và chưa gắn với chương trình học chính khóa.
Giai đoạn 2009 – 2012, Bộ GD-ĐT bắt đầu tiếp cận mô hình Intel International Science and Engineering Fair (ISEF) thông qua các hội thảo tại Hà Nội và TP.HCM, đồng thời cử HS tham dự với tư cách dự thi độc lập. Bước ngoặt xuất hiện từ năm học 2012 – 2013 khi cuộc thi nghiên cứu KHKT cấp quốc gia chính thức được tổ chức theo mô hình này. Đây không chỉ là sự tiếp thu kỹ thuật tổ chức mà còn là bước đi chiến lược, giúp HS VN tiếp cận sớm với chuẩn mực nghiên cứu quốc tế.
Từ đó, cuộc thi từng bước hoàn thiện với hệ thống lĩnh vực đa dạng, quy trình tuyển chọn 3 cấp (trường, tỉnh, quốc gia) và cơ chế hướng dẫn bài bản.
Từ năm 2022 đến nay, trong bối cảnh triển khai Chương trình GDPT 2018, cuộc thi KHKT ngày càng gắn chặt với định hướng phát triển phẩm chất và năng lực. Hoạt động nghiên cứu KHKT trở thành một phương thức học tập, thông qua các dự án học tập (project-based learning).
Do đó, cuộc thi có những giá trị không thể phủ nhận như đã góp phần hình thành văn hóa nghiên cứu trong trường phổ thông – điều vốn thiếu trước đây; tạo ra một sân chơi học thuật có tính hội nhập; góp phần thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học và là kênh phát hiện, bồi dưỡng HS có năng khiếu nghiên cứu. Không ít HS trưởng thành từ cuộc thi đã tiếp tục theo đuổi con đường KHKT, trở thành nguồn nhân lực tiềm năng cho tương lai.
Tuy nhiên, cuộc thi vẫn còn những vấn đề bất cập. Trước hết là sự chênh lệch vùng miền. Các trường ở đô thị với cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên tốt có lợi thế rõ rệt, trong khi HS nông thôn, miền núi thiếu thiết bị, thiếu người hướng dẫn và môi trường nghiên cứu. Khoảng cách này ảnh hưởng trực tiếp đến tính công bằng của cuộc thi.
Một vấn đề đáng lo ngại khác là hiện tượng làm thay. Không ít đề tài vượt quá khả năng thực tế của HS. Khi giáo viên, phụ huynh hoặc chuyên gia can thiệp quá sâu, ý nghĩa giáo dục bị bóp méo: HS không học cách nghiên cứu mà chỉ trình diễn sản phẩm.
Bên cạnh đó, nhiều đề tài thiếu tính mới, trùng lặp hoặc chạy theo xu hướng to tát để đoạt giải, làm suy giảm tính sáng tạo. Áp lực thành tích cũng khiến cuộc thi ở một số nơi trở thành cuộc đua danh hiệu. Trong khi đó, quy chế đã quy định rõ về liêm chính học thuật. Do vậy vấn đề không nằm ở quy định mà ở việc thực thi và xây dựng văn hóa trung thực. Những trường hợp bị thu hồi giải gần đây cho thấy hệ thống đang tự điều chỉnh, nhưng cũng đặt ra yêu cầu về sự minh bạch và kiên trì với liêm chính khoa học.
Trước nhiều lùm xùm của cuộc thi nghiên cứu KHKT quốc gia, có ý kiến cho rằng nên bỏ cuộc thi này. Tuy vậy, vấn đề không phải là bỏ hay giữ mà là làm thế nào để trả lại đúng bản chất của nó.
Để làm được điều này, cần tách cuộc thi khỏi áp lực thi đua hành chính. Khi giải thưởng không còn là chỉ tiêu thì động cơ tham gia sẽ trở nên trong sáng hơn. Kế đến, cần chuyển trọng tâm từ sản phẩm sang quá trình. Một dự án chưa hoàn chỉnh nhưng trung thực có giá trị hơn một sản phẩm hoàn hảo nhưng giả tạo.
Cần siết chặt cơ chế kiểm chứng: bắt buộc nhật ký nghiên cứu, yêu cầu cung cấp dữ liệu thô, tăng cường phỏng vấn trực tiếp, mời chuyên gia độc lập phản biện đề tài… Ngoài ra, cũng cần minh bạch hóa vai trò của người hướng dẫn. Giáo viên và chuyên gia chỉ nên đóng vai trò định hướng, không làm thay. Mức độ hỗ trợ cần được quy định rõ ràng, và sự tham gia của các bên liên quan phải được công khai.
Cuối cùng là xây dựng văn hóa liêm chính khoa học trong nhà trường. Khi HS hiểu rằng trung thực quan trọng hơn giải thưởng, thì cuộc thi sẽ tự điều chỉnh lành mạnh.
Cuộc thi không chỉ là sân chơi mà là tấm gương phản chiếu cách chúng ta hiểu giáo dục. Nếu vẫn thi để lấy giải thì mô hình tiên tiến cũng khó hiệu quả. Ngược lại, nếu nuôi dưỡng tinh thần khoa học – trung thực là nền tảng, sáng tạo là mục tiêu – cuộc thi có thể trở thành điểm sáng. Vấn đề cốt lõi không phải HS có gian lận hay không, mà là môi trường đã đủ tốt để không có gian lận.
Trong giáo dục, bất kỳ mô hình nào nếu mất đi niềm tin xã hội đều khó tồn tại lâu dài. Nhưng điều đáng nói là những vụ việc bị phát hiện và xử lý cũng cho thấy hệ thống đang tự điều chỉnh.
Một hệ thống không có sai phạm không phải là hệ thống tốt. Một hệ thống biết phát hiện và sửa sai mới là hệ thống có khả năng phát triển.
Cuộc thi KHKT dành cho HS trung học tại Mỹ, tiêu biểu là Regeneron International Science and Engineering Fair (ISEF), ra đời năm 1950 trong bối cảnh Mỹ đẩy mạnh giáo dục khoa học sau Chiến tranh thế giới thứ 2. Từ quy mô phong trào, ISEF nhanh chóng phát triển thành sự kiện KHKT lớn nhất thế giới dành cho HS. Sau hơn 70 năm, ISEF trở thành biểu tượng của văn hóa khoa học thế giới.
Tại VN, cuộc thi KHKT cấp quốc gia (ViSEF) được Bộ GD-ĐT triển khai từ năm 2012 dựa trên mô hình ISEF. Từ thí điểm ban đầu, cuộc thi nhanh chóng mở rộng toàn quốc, trở thành sân chơi thường niên và kênh tuyển chọn HS dự thi quốc tế. Như vậy, cùng một mô hình nhưng tại VN lại vấp tranh cãi gian lận, thu hồi giải, niềm tin suy giảm.
Bản thân cuộc thi ViSEF không có lỗi. Tinh thần cốt lõi của các sân chơi này là tạo cơ hội để HS học cách làm khoa học – đặt câu hỏi, hình thành giả thuyết, tiến hành thử nghiệm, phân tích dữ liệu và bảo vệ kết quả của mình trước phản biện. Do đó, cuộc thi không phải là cuộc trình diễn sản phẩm mà là quá trình học tập thông qua nghiên cứu. VN đưa mô hình này vào giáo dục là bước đi đúng. Nhưng giáo dục không phải là câu chuyện của mô hình mà là môi trường học tập và trung thực.
Ở Mỹ, HS tham gia thi phần lớn xuất phát từ đam mê hoặc định hướng nghề nghiệp. Các cuộc thi như ISEF là nơi để các em thử sức, cọ xát, và nếu có thành tích, đó là kết quả tự nhiên của quá trình nghiêm túc. Trong khi đó, tại VN, cuộc thi nhanh chóng được gắn vào hệ thống thi đua. Thành tích của HS không còn là chuyện cá nhân mà trở thành của nhà trường, địa phương, thậm chí liên quan đến đánh giá giáo viên. Khi đó, áp lực không còn nằm ở việc HS học được gì, mà là phải có giải. Và khi có giải trở thành mục tiêu thì mọi phương tiện đều có nguy cơ được biện minh.
Chính sự hành chính hóa này đã làm biến dạng bản chất của cuộc thi. Một sân chơi học thuật bị kéo về logic của phong trào: thi để đạt chỉ tiêu, để đạt thành tích.
Cuối năm 2025, khi đang đi công tác ở New Zealand, bà Trần Thị Lành, người sáng lập Viện Nghiên cứu sinh thái chính sách xã hội (SPERI), bỗng nhận được cuộc gọi từ một giáo sư lớn tuổi, khiến bà phải mua ngay vé máy bay để trở về Hà Nội. Nguồn cơn của sự vội vã ấy xuất phát từ nguy cơ bộ môn tài nguyên và môi trường đất của Trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia Hà Nội) bị "xóa sổ".
Chia sẻ với Thanh Niên, bà Trần Thị Lành cho rằng việc tinh gọn bộ máy theo Nghị quyết 18 đáng lẽ phải là một cuộc sàng lọc để đặt đúng người, đúng việc, đúng vị thế. Thế nhưng bản dự thảo "tinh lọc, sắp xếp lại" của Khoa Môi trường lại đề xuất đổi tên khoa thành "Khoa Môi trường và thực phẩm", đồng thời giải thể 3 bộ môn, trong đó có bộ môn tài nguyên và môi trường đất (trước đây là bộ môn thổ nhưỡng thuộc Khoa Sinh học), để gom cơ sở vật chất về một trung tâm nghiên cứu.
Bà Lành đau xót nhận định trong triết lý khoa học, đất chính là "mẹ" của các ngành sinh học, hóa học và địa chất học. "Tinh gọn là phải hoàn trả hệ giá trị cốt lõi về đúng vị trí của triết lý, chứ không phải chạy theo các thuật ngữ thị trường một cách hời hợt", bà nói.
Nhờ sự đấu tranh mạnh mẽ của những người tâm huyết, bộ môn tài nguyên và môi trường đất được giữ lại, nhưng vẫn ở trong tình trạng "tự sinh, tự trôi". Bộ môn tồn tại cầm chừng do ngành cốt lõi là khoa học đất đã phải ngừng tuyển sinh từ lâu. K61 là khóa tuyển sinh cuối cùng (năm 2016) và được gần 20 sinh viên, nhưng chỉ 6 em "trụ" lại được đến ngày tốt nghiệp.
GS Lê Thanh Sơn, Hiệu trưởng Trường ĐH Khoa học tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội, cho biết ngoài khoa học đất, khoảng chục ngành khoa học cơ bản (vốn có thế mạnh truyền thống) của trường cũng đang đứng ở lằn ranh "tồn tại" và "không tồn tại". Nhiều ngành phải đóng mã (do không tuyển sinh được), nhưng nhà trường vẫn giữ lại đội ngũ giảng viên, duy trì bộ môn, chờ cơ hội để "vực dậy".
Nhà trường phải cân đối nguồn thu từ học phí của các ngành mạnh (toán, lý, hóa, sinh…) để trả lương cơ bản nhằm giữ giảng viên. Có những ngành khi mở lại mã ngành, dù chỉ tuyển sinh được trên dưới 10 sinh viên (trong khi một lớp cần 50 sinh viên mới đủ kinh phí để duy trì), nhà trường vẫn tổ chức giảng dạy. Học phí không đủ chi, nhà trường phải xin nhà nước hỗ trợ.
Theo GS Phùng Hồ Hải, nguyên Viện trưởng Viện Toán học, Viện Hàn lâm KH-CN VN, thực trạng nền khoa học cơ bản hiện nay là hệ quả của một quá trình đầu tư "ngược".
Hàn Quốc và Trung Quốc đều ưu tiên phát triển công nghệ, sau đó là toán học. Còn VN thì từ những năm 1960 đã đầu tư rất mạnh về nhân lực cho nghiên cứu cơ bản, nhưng việc này không đồng bộ với phát triển kỹ thuật công nghệ, khiến cho nghiên cứu cơ bản ở VN thiếu sự kết nối với kỹ thuật công nghệ.
"Nghiên cứu cơ bản ở VN vốn được tạo ra một cách tương đối miễn cưỡng, duy ý chí. Nó đã được xây dựng như một sự chuẩn bị cho sự phát triển của đất nước (sau chiến tranh). Tuy nhiên, vế thứ hai đã không được phát triển đầy đủ. Đội ngũ nghiên cứu cơ bản ở VN vừa tản mạn về nhân lực, vừa thiếu thốn về cơ sở vật chất, vừa thiếu liên hệ với các lĩnh vực kỹ thuật công nghệ, do các lĩnh vực này cũng chưa phát triển, thậm chí chưa tồn tại ở VN. Dù vậy, nghiên cứu cơ bản ở VN vẫn có những đóng góp âm thầm nhưng quan trọng, là đóng góp vào việc phát triển nhân lực khoa học công nghệ", GS Phùng Hồ Hải phân tích.
Cũng theo GS Phùng Hồ Hải, với kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại cuộc họp cho chủ trương về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản gần đây, mà quan điểm chủ đạo là xem nghiên cứu cơ bản đứng đầu chuỗi phát triển KH-CN, cho phép giới chuyên gia kỳ vọng vào bức tranh khoa học cơ bản "đẹp và có ích" ở VN thời gian tới.
GS Nguyễn Phùng Quang, nguyên giảng viên ĐH Bách khoa Hà Nội, cũng ngậm ngùi kể lại một kỷ niệm "không vui": "Từ thập niên 1970 của thế kỷ trước, các chuyên gia ngành tự động hóa VN nói riêng và thế giới nói chung đã bắt đầu nghiên cứu số hóa với kỳ vọng gia tăng số lượng, chất lượng sản phẩm. Sự chín muồi của tự động hóa chính là điều kiện cần của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Khi ấy ở VN cũng có một vài điểm sáng hứa hẹn về kỹ thuật bán dẫn (ví dụ Nhà máy Z181 sản xuất transistor), hay về kỹ thuật điện (ví dụ Nhà máy Động cơ Việt - Hung). Đáng tiếc, sau hơn 40 năm, các điểm sáng đó hoặc đã biến mất khỏi thị trường, hoặc đang tồn tại với những dòng sản phẩm không thể đáp ứng kỳ vọng cao nhất".
Theo GS Nguyễn Phùng Quang, việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định "khoa học cơ bản là cơ sở để hình thành công nghệ lõi" đã chạm tới nỗi niềm trăn trở bấy lâu nay của các nhà khoa học ngành tự động hóa VN.
Theo GS Chử Đức Trình, Hiệu trưởng Trường ĐH Công nghệ, ĐH Quốc gia Hà Nội, nhìn "lịch sử" mảng nghiên cứu phát triển (R&D) của các doanh nghiệp FDI (đầu tư nước ngoài) cũng có thể thấy sự "trỗi dậy âm thầm" của nguồn nhân lực khoa học cơ bản, nhờ sự bền bỉ duy trì mảng này của các trường đại học, viện nghiên cứu.
Đến năm 2000, VN hầu như chưa có một cái chấm nhỏ nào trên bản đồ công nghệ. Thời điểm đó, dù "bùng nổ" doanh nghiệp FDI, nhưng họ chỉ đầu tư vào mảng chế xuất, sử dụng lao động giá rẻ.
Từ năm 2008, VN có chính sách "yêu cầu" các doanh nghiệp phải đầu tư vào R&D (thông qua luật Công nghệ cao). Thoạt tiên, các doanh nghiệp triển khai đầu tư vào R&D trong trạng thái bị áp đặt và làm một cách khiên cưỡng. Doanh nghiệp nào muốn làm thật thì vấn đề nhân lực tại chỗ, đặc biệt là nhân lực được đào tạo bài bản về khoa học cơ bản và có năng lực nghiên cứu ứng dụng là một bài toán nan giải.
Nhưng gần đây bắt đầu có một số doanh nghiệp nổi lên cho việc đầu tư và R&D, thậm chí có đơn vị chỉ đầu tư vào VN mảng R&D chứ không đầu tư chế xuất. Chẳng hạn Samsung khi mới đầu tư vào VN chỉ tập trung mảng chế xuất, sau đó họ tập trung vào R&D (qua Trung tâm SVMC). Ban đầu quy mô bé, nhưng giờ là Trung tâm SRV rất lớn, và Samsung đã nhận được nhiều "lợi ích" từ Trung tâm SRV này. Ngày 4.6, Trung tâm SRV ký kết với Trường ĐH Công nghệ - ĐH Quốc gia Hà Nội biên bản hợp tác đào tạo thạc sĩ, cung cấp nguồn nhân lực cho trung tâm.
Nhiều doanh nghiệp FDI khác (Bosch, LG, Nissan Automatics…) cũng đầu tư vào R&D rất mạnh ở VN. Thậm chí, ở VN đã xuất hiện nhiều doanh nghiệp chỉ làm R&D rồi bán sản phẩm nghiên cứu và phát triển cho các doanh nghiệp khác. Vừa qua có một doanh nghiệp của Hà Lan đã chuyển toàn bộ mảng R&D và sản xuất từ Philippines sang VN do họ nhận thấy tiềm năng của nguồn nhân lực trình độ cao của VN hứa hẹn hơn. Thậm chí, họ đóng cửa cả R&D ở châu Âu để tập trung toàn bộ các khâu R&D và sản xuất ở VN.
"Trước đây là bị "ép" dành ra một khoản dành cho R&D, nhưng bây giờ doanh nghiệp FDI đã nhìn thấy lợi ích từ R&D. Hơn nữa, họ không còn quá chật vật trong việc giải bài toán nhân lực trình độ cao. Dù vẫn khó khăn, nhưng năng lực đào tạo của các trường ĐH trong nước bước đầu đã đáp ứng được phần nào nhu cầu nguồn lực con người cho nền kinh tế công nghệ cao", GS Chử Đức Trình chia sẻ.
10 chuyên đề ôn tập môn ngữ văn thuộc chương trình Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT đạt điểm cao năm 2026 do giáo viên Đỗ Đức Anh, Trường THPT Bùi Thị Xuân (P.Bến Thành), hướng dẫn được phát ở chuyên mục giáo dục trên các nền tảng: thanhnien.vn, fanpage Facebook và kênh YouTube của Báo Thanh Niên.
https://www.youtube.com/watch?v=Bdv4HWzzHQw
Trong chuyên đề 5: Bí kíp đọc hiểu văn bản thơ siêu nhanh, giáo viên hướng dẫn cách đọc thơ đúng "chìa khóa" để hiểu nhanh, trả lời đúng - trúng đáp án. Cung cấp công thức xác định cảm xúc – chủ đề – hình ảnh thơ - tình cảm. Nhận diện nhanh biện pháp tu từ và tác dụng. Rèn kỹ năng cảm thụ thơ sâu nhưng trả lời ngắn gọn. Giúp học sinh tự tin xử lý mọi dạng câu hỏi khó trong đề thi.
Trước đó, vào ngày 2.5, Báo Thanh Niên đã phát sóng chuyên đề 4 – Trạm văn thực chiến- Đọc hiểu văn bản nghị luận, giáo viên Đỗ Đức Anh giúp học sinh vận dụng lý thuyết đã học ở chuyên đề 3 để thực hành giải đề đọc hiểu một cách thành thạo, đúng hướng và đạt điểm tối đa. Rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản nghị luận qua các đề thực tiễn.
Từ 20.4 đến 23.5, vào các khung giờ cố định (16 giờ 30, 18 giờ 30 và 20 giờ 30) thứ hai đến thứ bảy hàng tuần, Báo Thanh Niên lần lượt phát sóng trực tiếp 88 chuyên đề Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT đạt điểm cao tại các địa chỉ thanhnien.vn, Facebook.com/thanhnien và YouTube Báo Thanh Niên.
88 chuyên đề ôn tập kiến thức do các giáo viên giàu kinh nghiệm tại TP.HCM xây dựng, gồm: Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, chuyên Trần Đại Nghĩa, Bùi Thị Xuân, Lê Quý Đôn, Marie Curie, Nguyễn Hiền, quốc tế Á Châu… Qua mỗi chuyên đề ôn thi trực tuyến, giáo viên sẽ giúp học sinh tiết kiệm thời gian, tận dụng lợi thế của công nghệ để hứng thú với việc học, tích lũy kiến thức cho kỳ thi quan trọng sắp đến.
Sau các khung giờ nói trên, các chuyên đề vẫn xuất hiện trên các nền tảng thanhnien.vn, Facebook.com/thanhnien và YouTube Thanh Niên. Học sinh sử dụng bất kỳ thiết bị (điện thoại thông minh, máy tính cá nhân hay máy tính cố định) và chỉ cần kết nối internet đều có thể tiếp cận nội dung hệ thống kiến thức của 9 môn thi trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026.
Học sinh có thể truy cập vào các nền tảng của Báo Thanh Niên hoặc quét mã QR từ lịch phát sóng để xem trực tiếp chương trình Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT năm 2026 vào đúng khung giờ hoặc xem lại 88 chuyên đề ôn thi tốt nghiệp THPT đã phát.
Lịch phát sóng tuần từ 4 đến 9.5 các chuyên đề ôn thi tốt nghiệp năm 2026:
Ngày 29-4, Học viện Kỹ thuật quân sự tổ chức hội thảo "Đào tạo tài năng - giải pháp đột phá phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ xây dựng quân đội cách mạng chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.
Chia sẻ tại hội thảo, Thiếu tướng, GS.TS Trần Xuân Nam - Phó giám đốc Học viện Kỹ thuật quân sự - cho biết trong giai đoạn 2026 - 2030, Học viện Kỹ thuật quân sự dự kiến tổ chức triển khai đào tạo được 100-150 kỹ sư quân sự tài năng, 60-75 thạc sĩ tài năng và 30 tiến sĩ chất lượng cao.
Đến giai đoạn 2030-2035, học viện đặt mục tiêu đào tạo được 150 - 200 kỹ sư quân sự tài năng, 75 - 90 thạc sĩ tài năng và 40 tiến sĩ chất lượng cao.
Mục tiêu chung của các chương trình đào tạo tài năng của học viện là đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật - công nghệ có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn sâu, năng lực vượt trội, tư duy sáng tạo, có khả năng dẫn dắt đổi mới sáng tạo, tạo ra tri thức và công nghệ mới.
Từ đó thúc đẩy khả năng làm chủ công nghệ chiến lược trong phát triển các hệ thống vũ khí, trang bị hiện đại...
Theo Thiếu tướng Trần Xuân Nam, từ kinh nghiệm đào tạo tài năng của các trường đại học trong và ngoài nước, học viện đã xây dựng mô hình đào tạo tài năng của học viện với năm đặc điểm lớn:
Thứ nhất, đào tạo nhóm nhỏ, cá thể với tất cả các chuyên ngành, ưu tiên đào tạo các ngành công nghệ chiến lược, đào tạo lực lượng phục vụ xây dựng quân đội hiện đại.
Thứ hai, tuyển chọn học viên giỏi, xuất sắc có thiên hướng nổi trội về STEM: tuyển chọn học viên có thành tích Olympic quốc gia, quốc tế, có kết quả học tập 2 năm đầu đạt giỏi, xuất sắc, tiếng Anh B1.
Thứ ba, chương trình đào tạo tài năng yêu cầu chuẩn đầu ra cao hơn chương trình đào tạo chuẩn: đáp ứng các chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo tài năng thuộc các lĩnh vực STEM. Kỹ sư tài năng đạt chuẩn đầu ra trình độ bậc 7 (tương đương thạc sĩ), tiếng Anh B2 quốc tế.
Thứ tư, liên kết với doanh nghiệp công nghệ và hợp tác quốc tế: thực tập tốt nghiệp và đồ án tốt nghiệp tại doanh nghiệp công nghệ, nhà máy quốc phòng. Học viên cao học, nghiên cứu sinh được cử đi thực tập ngắn hạn ở nước ngoài.
Thứ năm, về chính sách thu hút đào tạo, ưu tiên học viên tốt nghiệp, học viện dự kiến tuyển sinh viên xuất sắc các trường ngoài quân đội đủ điều kiện tham gia đào tạo kỹ sư tài năng.
Học viên tốt nghiệp kỹ sư tài năng được cấp bằng kỹ sư chuyên sâu trình độ bậc 7 (tương đương thạc sĩ) và được phong quân hàm thượng úy, khác biệt với các chương trình đào tạo hiện tại (học viên tốt nghiệp được phong quân hàm thiếu úy hoặc trung úy với học viên tốt nghiệp khá, giỏi, có thành tích xuất sắc).
Với học viên, nghiên cứu sinh tốt nghiệp chương trình đào tạo thạc sĩ tài năng, tiến sĩ chất lượng cao được xem xét thăng quân hàm trước niên hạn.
Đối với kỹ sư quân sự tài năng, học viện dự kiến tuyển chọn học viên đoạt giải nhất, nhì, ba trong các kỳ thi Olympic quốc gia, quốc tế các môn toán, lý, hóa, tin học hoặc những học viên giỏi, xuất sắc thuộc tốp 20% cao nhất toàn quốc trong cùng tổ hợp có kết quả học tập 2 năm đầu tại Học viện Kỹ thuật quân sự đạt loại giỏi trở lên, có tố chất nổi bật, bộc lộ trong học tập, nghiên cứu khoa học và có trình độ ngoại ngữ từ B1 trở lên để triển khai đào tạo kỹ sư quân sự tài năng trong 3,5 năm tiếp theo.
Ngoài ra, tuyển chọn đặc biệt đối với những sinh viên xuất sắc trường ngoài quân đội, có lý lịch rõ ràng, phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có đủ sức khỏe, có năng lực đặc biệt trong lĩnh vực được đào tạo và có điểm trúng tuyển phải tương đương với khóa tuyển sinh kỹ sư quân sự tài năng.
Đối với thạc sĩ tài năng, bên cạnh phẩm chất chính trị, yêu cầu học viên phải tốt nghiệp đại học đạt loại giỏi trở lên, có chứng chỉ tiếng Anh quốc tế trình độ B2 (tương đương bậc 4/6 theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam) trở lên.
Đồng thời, học viên phải là tác giả chính của bài báo, báo cáo khoa học trong các ấn phẩm có chỉ số xuất bản do Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định đối với các ngành tương ứng.
Đối với tiến sĩ chất lượng cao, học viên phải tốt nghiệp thạc sĩ ngành phù hợp, hoặc tốt nghiệp đại học hạng giỏi trở lên ngành phù hợp, hoặc tốt nghiệp trình độ tương đương bậc 7 theo khung trình độ quốc gia Việt Nam ở một số ngành đào tạo chuyên sâu đặc thù phù hợp với ngành đào tạo tiến sĩ; có chứng chỉ tiếng Anh quốc tế trình độ B2.
Đồng thời là tác giả chính của bài báo khoa học trong các ấn phẩm được tính tới 0,75 điểm trở lên theo điểm tối đa do Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định (tại thời điểm bài báo được chấp nhận đăng) đối với các ngành tương ứng.