Tại hồ sơ thẩm định dự án sửa đổi Luật Điện lực gửi Bộ Tư pháp mới đây, Bộ Công Thương đề xuất giá bán lẻ điện được điều chỉnh kịp thời theo biến động chi phí đầu vào thực tế, đảm bảo bù đắp chi phí hợp lý và có lợi nhuận phù hợp để doanh nghiệp bảo toàn, phát triển vốn.
Trường hợp chi phí sản xuất, cung ứng điện chưa được tính hết trong một lần điều chỉnh giá điện, phần còn thiếu sẽ được phân bổ vào các lần điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân tiếp theo.
Đề xuất này xuất phát từ thực tế Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) thua lỗ lớn giai đoạn 2022-2023 do chi phí đầu vào tăng mạnh, trong khi giá điện chưa được điều chỉnh tương ứng để hỗ trợ kiểm soát lạm phát và phục hồi kinh tế sau dịch Covid-19. Theo số liệu mới nhất của EVN, lỗ lũy kế của công ty mẹ còn khoảng 5.611 tỷ đồng, thấp hơn nhiều so với mức gần 45.000 tỷ đồng, đến cuối năm 2024.
Đề nghị minh bạch toàn bộ chi phí giá điện
Liên quan đến vấn đề minh bạch giá điện, Bộ Tài chính đề nghị cơ quan soạn thảo tăng cường các yêu cầu về minh bạch chi phí sản xuất, truyền tải, phân phối điện; công khai phương pháp xác định giá điện; kiểm toán, giám sát độc lập đối với các khoản chi phí lớn, các cơ chế đặc thù.
Bộ Tài chính cho rằng đây là cơ sở quan trọng để kiểm soát chi phí, bảo vệ lợi ích của Nhà nước và người tiêu dùng, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực trong ngành điện.
Góp ý dự thảo Luật, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng đề nghị quy định cụ thể hơn tần suất điều chỉnh giá điện để tránh điều chỉnh đột ngột. Đồng thời, bổ sung quy định công khai cấu phần chi phí đầu vào như nhiên liệu, truyền tải, phân phối, quản lý và công bố công khai báo cáo chi phí hàng năm.
Liên quan đến vấn đề này, Bộ Tài chính đề nghị Bộ Công Thương làm rõ phương pháp xác định giá điện nhiều thành phần; đánh giá tác động đến CPI, sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh nền kinh tế; quy định chặt chẽ việc xử lý các chi phí chưa được tính vào giá điện trước đây (nếu có), bảo đảm minh bạch và kiểm soát tác động.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng đề nghị cần làm rõ nội dung quy định này để đảm bảo tính minh bạch. Trong khi đó, Bộ Tư pháp đề nghị làm rõ cơ quan chịu trách nhiệm công khai chi phí thực tế tính giá điện là đơn vị bán lẻ điện hay Bộ Công Thương.
Giải trình các vấn đề trên, Bộ Công Thương cho biết cơ chế và thời gian điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân hiện đã được quy định tại Luật Điện lực 2024 và Nghị định 72/2025 của Chính phủ.
Đồng thời, dự thảo Luật sửa đổi đã bổ sung quy định yêu cầu đơn vị bán lẻ điện hằng năm phải báo cáo chi phí thực tế để Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan kiểm tra, công khai chi phí tính giá điện.
Bộ Công Thương nêu dự thảo Luật quy định Bộ Công Thương sẽ chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan kiểm tra, công bố công khai chi phí thực tế trong tính toán giá bán lẻ điện bình quân. Nội dung và cách thức công khai sẽ được quy định chi tiết tại thông tư do Bộ ban hành…
Bộ Tài chính: Không chuyển rủi ro doanh nghiệp sang người dân
Về bảo toàn và phát triển vốn Nhà nước tại doanh nghiệp điện lực, Bộ Tài chính cho rằng các quy định của dự thảo Luật liên quan đến cơ chế giá điện, hạch toán chi phí (bao gồm chi phí chưa được tính đủ vào giá điện), chi phí khảo sát, đầu tư, cơ chế chia sẻ rủi ro đều có tác động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và giá trị vốn nhà nước tại doanh nghiệp điện lực.
Do đó, Bộ Tài chính đề nghị bổ sung nguyên tắc xuyên suốt trong Luật: Hoạt động điện lực phải bảo đảm bảo toàn và phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Làm rõ cơ chế xử lý các chi phí chưa được tính vào giá điện; trách nhiệm của doanh nghiệp trong quản trị chi phí, tránh chuyển lỗ hoặc chi phí kém hiệu quả vào giá điện.
Không thiết kế cơ chế chính sách làm suy giảm hiệu quả sử dụng vốn nhà nước hoặc chuyển rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp sang Nhà nước hoặc người tiêu dùng.
Tiếp thu ý kiến, Bộ Công Thương cho biết đã sửa đổi Điều 52 của dự thảo Luật theo hướng giá bán lẻ điện được điều chỉnh kịp thời theo biến động đầu vào thực tế, bảo đảm bù đắp chi phí hợp lý và có lợi nhuận phù hợp để doanh nghiệp bảo toàn, phát triển vốn.
Trường hợp chi phí sản xuất, cung ứng điện chưa được bù đắp đầy đủ trong các lần điều chỉnh giá điện, phần còn thiếu sẽ được phân bổ vào các lần tính toán, điều chỉnh tiếp theo.
Dự thảo cũng bổ sung điều khoản chuyển tiếp để xử lý các chi phí chưa được tính vào giá điện trước thời điểm Luật Điện lực sửa đổi có hiệu lực.
Về ranh giới giữa nghĩa vụ của doanh nghiệp và trách nhiệm của Nhà nước, Bộ Tài chính cho rằng một số cơ chế trong dự thảo Luật có thể dẫn đến chồng lấn trách nhiệm, như hỗ trợ tiền điện, điều tiết giá, đầu tư hạ tầng hay cơ chế đặc thù cho dự án điện lực.
Do đó, Bộ đề nghị làm rõ nguyên tắc doanh nghiệp điện lực hoạt động theo cơ chế thị trường, tự chủ tài chính và tự chịu trách nhiệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Theo Bộ Tài chính, Nhà nước chỉ hỗ trợ trong các trường hợp phục vụ an sinh xã hội, nhiệm vụ công ích hoặc mục tiêu chiến lược đặc biệt; không sử dụng ngân sách để bù đắp chi phí, rủi ro thuộc trách nhiệm kinh doanh của doanh nghiệp.
Tiếp thu ý kiến, Bộ Công Thương cho biết dự thảo Luật đã bổ sung Điều 5 như sau: Trường hợp có chủ trương của Nhà nước về việc thực hiện hỗ trợ tiền điện cho các đối tượng khách hàng đặc thù, nguồn hỗ trợ được lấy từ nguồn ngân sách nhà nước hoặc từ các nguồn tài chính, quỹ hợp lệ, hợp pháp theo các trường hợp cụ thể theo quy định hiện hành có liên quan.
Theo Quyết định 963 của Bộ Công Thương ban hành ngày 22/4, giờ cao điểm được dồn vào buổi tối từ 17h30 đến 22h30 hàng ngày (chủ nhật không có giờ cao điểm), còn thấp điểm 0-6h.
Tuy nhiên, thay đổi này hiện chưa được Bộ Công Thương áp dụng thực tế, nên giờ cao điểm vẫn chia làm 2 khung như trước (9h30-11h30 và 17h-22h hàng ngày, trừ chủ nhật), còn thấp điểm 22h-4h.
Theo quy định Thông tư 60/2025, các khung giờ cao - thấp điểm và bình thường chỉ được thay đổi khi cơ quan quản lý có đợt điều chỉnh giá điện bình quân. Song, tại dự thảo sửa đổi Thông tư 60, Bộ Công Thương đề nghị bỏ quy định chuyển tiếp này. Điều này đồng nghĩa, khung giờ điện cao điểm (17h30-22h30, trừ chủ nhật), thấp điểm 0-6h hàng ngày có thể được áp dụng ngay trong mùa nắng nóng năm nay.
Khung giờ cao, thấp điểm chủ yếu áp dụng với nhóm khách hàng dùng điện cho sản xuất, kinh doanh. Hộ gia đình dùng điện sinh hoạt không chịu ảnh hưởng bởi khung giờ này, mà theo biểu giá bán lẻ bậc thang hiện hành.
Hiện có khoảng 1,25 triệu công tơ điện của các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh đang áp dụng cơ chế này, liên quan trực tiếp đến đo đếm, lập hóa đơn và thanh toán điện năng.
Bộ Công Thương cho rằng việc sớm áp dụng khung giờ điện cao điểm mới (5 giờ một ngày), thấp điểm (6 giờ mỗi ngày) sẽ phản ánh đúng cung - cầu điện, khuyến khích khách hàng dịch chuyển sử dụng điện khỏi giờ cao điểm để giảm áp lực hệ thống.
Theo số liệu của Bộ Công Thương, từ năm 2019 - thời điểm điện mặt trời phát triển mạnh, tỷ trọng tiêu thụ điện công nghiệp tăng từ 30% lên hơn 50% tổng sản lượng điện. Trong khi đó, điện dùng trong sinh hoạt gia đình giảm từ khoảng 50% xuống còn gần 30%.
Khung giờ cao - thấp điểm và bình thường theo Quyết định 963, từ 22/4:
Tuần trước, Công ty Vận hành hệ thống điện và thị trường điện quốc gia (NSMO) cũng đề xuất áp dụng khung giờ cao, thấp điểm mới ngay trong tháng 6. Tương tự, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cũng kiến nghị áp dụng ngay khung giờ điện mới trong mùa khô năm nay để góp phần giảm nguy cơ mất cân bằng cung - cầu điện, nhất là vào cao điểm chiều tối.
Năm nay, Bộ Công Thương dự báo nguy cơ thiếu điện vào các đợt nắng nóng cao điểm mùa khô do nhu cầu sử dụng điện tăng mạnh, và nhiều yếu tố bất định như xung đột địa chính trị, biến động giá nhiên liệu hay thời tiết cực đoan.
Ngày 26/5, công suất tiêu thụ điện lớn nhất của hệ thống điện quốc gia đạt 57.590 MW, tăng khoảng 470 MW so với cùng thời điểm trước đó một ngày. Miền Bắc ghi nhận mức tăng công suất tiêu thụ gần 900 MW, lên 29.385 MW.
NSMO dự báo công suất tiêu thụ điện cả nước tiếp tục tăng trong hôm nay. Trong đó, công suất tiêu thụ lớn nhất tại miền Bắc vào giờ cao điểm tối (17h-20h) có thể đạt 31.000-31.500 MW, tăng hơn 6.500-7.000 MW so với thời điểm trước đợt nắng nóng.
Tại cuộc họp ngày 26/5, Thứ trưởng Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân cho biết nền nhiệt cao kỷ lục kéo dài trên diện rộng từ đầu tháng 4 đến nay khiến tiêu thụ điện tăng mạnh, đặc biệt giai đoạn 23-27/5. Theo dự báo của cơ quan khí tượng trong nước và quốc tế, khả năng xuất hiện "siêu El Nino" từ tháng 7 lên tới 80%, kéo theo nguy cơ hạn hán, giảm lượng nước về hồ thủy điện và gia tăng nhu cầu sử dụng điện.
Bộ Công Thương cho biết các kịch bản vận hành điện năm 2026 đã tính tới phương án nhu cầu sử dụng tăng 8,5-14,2%. Tuy nhiên, với mục tiêu tăng trưởng GDP trên 10%, nhu cầu điện thực tế có thể tăng tương ứng hoặc cao hơn, tạo áp lực lớn lên phát triển nguồn điện, lưới truyền tải và năng lực điều độ hệ thống.
Công ty cổ phần Phục vụ mặt đất Sài Gòn (SAGS - SGN) vừa công bố tài liệu họp Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026.
Năm 2025 tổng sản lượng phục vụ của doanh nghiệp này giảm so với năm trước. Nguyên nhân chính do công ty ngừng cung cấp dịch vụ quốc nội cho Vietjet Air tại sân bay Tân Sơn Nhất từ 20-4-2025 và ngưng dịch vụ quốc tế từ 1-11-2025.
Tại Cảng hàng không quốc tế Cam Ranh, Hãng Bamboo Airways giảm sản lượng bay quốc nội, Vietjet và các hãng hàng không Trung Quốc chưa khai thác được các chặng bay như kế hoạch đề ra.
Để giải quyết vấn đề này, doanh nghiệp cho biết đã chuyển sang ký hợp đồng với các hãng hàng không mới như Sun PhuQuoc Airways, United Airlines nhằm cải thiện kết quả kinh doanh năm 2025.
Về số liệu, năm 2025 doanh thu hợp nhất SAGS đạt gần 1.545 tỉ đồng, giảm 1%. Lợi nhuận sau thuế đạt hơn 208 tỉ đồng, giảm 23% so với năm 2024.
Công ty này nhận định năm 2026 có nhiều tín hiệu thuận lợi với ngành hàng không nhờ tăng trưởng kinh tế vĩ mô, chính sách thúc đẩy du lịch của Chính phủ cho đến việc cơ sở hạ tầng tiếp tục được đầu tư, mở rộng.
Tuy nhiên doanh nghiệp cũng lưu ý những thách thức lớn từ căng thẳng kinh tế và chính trị toàn cầu, đặc biệt là xung đột tại khu vực Trung Đông.
Theo đó, giá nhiên liệu hàng không đã tăng gần gấp 3 lần so với trước xung đột, làm gia tăng chi phí vận hành của các hãng hàng không và dịch vụ hàng không. SAGS đánh giá diễn biến này tạo áp lực lớn lên công tác cân đối tài chính, hiệu quả hoạt động và kế hoạch tăng trưởng của toàn ngành.
Năm 2026, SAGS đặt mục tiêu đạt 1.534,1 tỉ đồng tổng doanh thu thuần hợp nhất, giảm 0,7%. Lợi nhuận sau thuế ở mức 170,6 tỉ đồng, giảm 18,1% so với năm 2025. Quý 1-2026, doanh nghiệp ghi nhận doanh thu thuần hơn 388 tỉ đồng (giảm 7% so với quý 1-2025), lãi sau thuế hơn 71 tỉ đồng (giảm 8,5%).
Về phương hướng kinh doanh, ban điều hành SAGS cho biết sẽ tập trung kiểm soát chi phí, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản trị và khai thác phục vụ bay. Đồng thời công ty sẽ đẩy mạnh tìm kiếm khách hàng, phát triển dịch vụ mới nhằm gia tăng doanh thu, ưu tiên mở rộng sản xuất kinh doanh tại sân bay Long Thành, tiếp tục xúc tiến thu hồi công nợ.
Thực tế, năm 2025 doanh nghiệp đã triển khai thành lập pháp nhân mới và tổ chức đầu tư dự án xây dựng và kinh doanh dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng phương tiện, trang thiết bị hàng không và dịch vụ phục vụ kỹ thuật thương mại mặt đất số 2 tại đây. Pháp nhân mới có vốn điều lệ 333 tỉ đồng. Trong đó SAGS nắm 75% vốn, phần còn lại 25% thuộc về Công ty cổ phần Phục vụ mặt đất Hà Nội.
Theo báo cáo kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), nhiều lĩnh vực của nền kinh tế tiếp tục ghi nhận xu hướng phục hồi và tăng trưởng khả quan.
Trong đó, sản xuất công nghiệp tiếp tục đóng vai trò là điểm sáng. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng, IIP tăng 9,1%, mức cao nhất trong vòng 4 năm trở lại đây.
Đáng chú ý, ngành chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt với mức tăng 9,5%, đóng góp 7,4 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung của toàn ngành. Một số ngành ghi nhận mức tăng mạnh như sản xuất kim loại tăng 20,2%; sản xuất xe có động cơ tăng 18%; sản xuất hóa chất tăng 16,9%; sản phẩm khoáng phi kim loại tăng 16,2%.
Bên cạnh đó, đầu tư tiếp tục là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tổng vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách Nhà nước trong 5 tháng đầu năm ước đạt 254.100 tỷ đồng, tương đương 24% kế hoạch năm và tăng 11,2% so với cùng kỳ.
Đặc biệt, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký vào Việt Nam đạt 24,81 tỷ USD, tăng mạnh 34,9% so với cùng kỳ năm trước. Vốn FDI thực hiện đạt 9,75 tỷ USD, tăng 9,6% và là mức cao nhất trong 5 năm qua. Trong đó, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục thu hút lượng vốn ngoại lớn nhất.
Ở khu vực doanh nghiệp, số lượng doanh nghiệp thành lập mới tiếp tục tăng mạnh. Trong 5 tháng đầu năm, cả nước có hơn 94.800 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 42,1% so với cùng kỳ năm trước. Cùng với đó, gần 47.800 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, nâng tổng số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường lên hơn 142.600.
Hoạt động thương mại và dịch vụ cũng phục hồi rõ nét. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong 5 tháng đầu năm ước đạt khoảng 3,18 triệu tỷ đồng, tăng 11,2% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu lưu trú, ăn uống tăng 13,3% và du lịch lữ hành tăng 12,2%, cho thấy nhu cầu tiêu dùng và du lịch tiếp tục cải thiện.
Thu ngân sách Nhà nước trong 5 tháng đạt gần 1,34 triệu tỷ đồng, tương đương 53% dự toán năm và tăng 15,3% so với cùng kỳ. Trong khi đó, chi ngân sách ước đạt 843.700 tỷ đồng, tăng 3,1%, tập trung cho các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đầu tư.
Hoạt động xuất nhập khẩu tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực với tổng kim ngạch đạt 445,12 tỷ USD, tăng 25% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu đạt 215,66 tỷ USD (tăng 19,5%) và nhập khẩu đạt 229,46 tỷ USD (tăng 30,8%).
Tuy nhiên, cán cân thương mại đã chuyển sang nhập siêu 13,8 tỷ USD, trái ngược với mức xuất siêu 5,1 tỷ USD của cùng kỳ năm trước. Khu vực kinh tế trong nước ghi nhận mức nhập siêu lớn, trong khi khu vực FDI tiếp tục duy trì xuất siêu.
Xét theo thị trường, Mỹ vẫn là đối tác xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 69,6 tỷ USD, trong khi Trung Quốc tiếp tục là thị trường nhập khẩu lớn nhất với kim ngạch đạt 92,6 tỷ USD.