Trong bối cảnh mặt bằng lãi suất ngân hàng liên tục biến động và chưa ổn định, thị trường bất động sản bước vào giai đoạn trầm lắng rõ rệt. Nhiều doanh nghiệp thừa nhận đây là thời điểm “khó bán hàng nhất trong nhiều năm” khi cả cung và cầu đều chịu áp lực từ chi phí vốn gia tăng.
Thực tế cho thấy, việc tiếp cận tín dụng để phát triển dự án hiện không hề dễ dàng. Trao đổi với phóng viên, ông Võ Quốc Đức – Giám đốc Ban Tài chính Kế toán Công ty CP Tập đoàn Đầu tư Địa ốc Nova (Novaland) cho biết lãi suất cho vay từ đầu năm 2026 tăng mạnh, phổ biến ở mức 20–30% thậm chí cao hơn ở một số lĩnh vực. Diễn biến này tác động trực tiếp đến toàn thị trường bất động sản.
Theo ông Đức, lãi vay tăng khiến chi phí tài chính đội lên, bào mòn lợi nhuận doanh nghiệp. Đáng chú ý nhiều dự án đã ký hợp đồng tín dụng từ năm 2025 với thời gian triển khai kéo dài 5–6 năm và giai đoạn giải ngân dự kiến 2–3 năm nhưng sang năm 2026 lại bị ngân hàng giải ngân cầm chừng, chỉ đạt khoảng 10–20% hoặc chưa được bố trí hạn mức tín dụng”.
Trong khi đó, tiến độ bán hàng và kế hoạch bàn giao nhà đã được xác định từ trước. Việc siết room tín dụng vào thời điểm này gây ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ xây dựng, thanh toán cho nhà thầu và buộc doanh nghiệp phải đàm phán lại với các bên liên quan. Hệ quả là kế hoạch nhận nhà, bàn giao nhà của khách hàng cũng bị điều chỉnh.
Ở phía người mua, áp lực tài chính ngày càng rõ nét. Nhiều khách hàng đã ký hợp đồng và thanh toán theo tiến độ xây dựng dựa trên mặt bằng lãi suất trước năm 2025. Tuy nhiên, khi lãi vay tăng cao khả năng tiếp cận vốn bị thu hẹp, thậm chí mất kênh vay khiến năng lực chi trả suy giảm.
“Chỉ cần một biến động nhỏ về lãi suất cũng có thể khiến một dự án từng được đánh giá khả thi trở nên rủi ro.
Khi người mua không đủ khả năng tiếp tục thanh toán nếu chủ đầu tư không đủ tiềm lực tài chính sẽ dễ rơi vào nợ xấu. Việc siết room tín dụng không chỉ ảnh hưởng riêng lẻ mà còn tạo hiệu ứng dây chuyền lên toàn thị trường”, ông Đức nhấn mạnh.
Khó khăn càng chồng chất đối với các dự án mới. Dù đã được đánh giá khả thi và làm việc sơ bộ với ngân hàng, nhiều dự án vẫn khó tiếp cận hạn mức tín dụng trong năm nay.
“Ngay cả các dự án đã được cấp room cũng chưa thể giải ngân theo kế hoạch, trong khi những dự án đang chuẩn bị triển khai chỉ được giải ngân một phần nhỏ so với cam kết ban đầu. Tình hình này ảnh hưởng nhiều đến các dự án đã và sắp triển khai của doanh nghiệp”, ông Đức nói.
Đại diện Novaland cho rằng, đối với doanh nghiệp bất động sản, thị trường tài chính và hạn mức tín dụng đóng vai trò then chốt. Việc siết room đột ngột không chỉ ảnh hưởng đến doanh nghiệp mà còn tác động đến các dự án nhà ở, đặc biệt là phân khúc đáp ứng nhu cầu thực của người dân.
Từ thực tế đó, doanh nghiệp kiến nghị các ngân hàng xem xét điều chỉnh mặt bằng lãi suất theo hướng giảm dần để hỗ trợ người mua nhà. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước cần có cơ chế điều hành room tín dụng linh hoạt hơn.
Nếu trước đây hạn mức tín dụng được phân bổ theo năm thì việc chuyển sang phân bổ theo quý với thời gian ngắn đang khiến cả ngân hàng, doanh nghiệp và người mua nhà rơi vào thế bị động.
Không chỉ phân khúc nhà ở thương mại, nhà ở xã hội vốn được kỳ vọng là điểm sáng cũng đang gặp vướng mắc về vốn. Ông Lê Hữu Nghĩa – Giám đốc Công ty Lê Thành cho biết doanh nghiệp hiện có dự án quy mô khoảng 2.000 tỷ đồng đã hoàn thành phần móng nhưng buộc phải tạm dừng do không tiếp cận được vốn vay.
Theo ông Nghĩa, dù thuộc diện được hưởng gói tín dụng ưu đãi 145.000 tỷ đồng của Chính phủ, doanh nghiệp vẫn bị ngân hàng từ chối cho vay với lãi suất 6,1%/năm. Nguyên nhân là chi phí huy động vốn của ngân hàng đang ở mức cao nếu cho vay với lãi suất ưu đãi sẽ không đảm bảo hiệu quả tài chính.
Ngay cả khi doanh nghiệp đề nghị vay theo lãi suất thương mại, ngân hàng cũng không chấp thuận do lo ngại rủi ro pháp lý khi cho vay không đúng đối tượng. Điều này khiến doanh nghiệp rơi vào thế “tiến thoái lưỡng nan” khi dự án đã triển khai nhưng không thể tiếp tục.
Từ thực tiễn này có thể thấy ngay cả những phân khúc được ưu tiên về chính sách cũng chưa thể tiếp cận nguồn vốn một cách thuận lợi cho thấy những điểm nghẽn trong cơ chế triển khai vẫn chưa được tháo gỡ.
Ở góc độ chuyên gia, TS. Nguyễn Duy Phương – Giám đốc đầu tư tài chính DG Capital nhận định, điểm yếu cốt lõi của doanh nghiệp bất động sản vẫn là sự phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng.
Trong khi đó, chu kỳ thắt chặt và nới lỏng tín dụng có xu hướng lặp lại sau mỗi 4–5 năm khiến thị trường luôn đối mặt với rủi ro mang tính chu kỳ.
Theo ông, áp lực hiện tại chưa đến mức khủng hoảng nhưng đã bộc lộ những rủi ro tiềm ẩn. Để phát triển bền vững, doanh nghiệp cần tái cấu trúc nguồn vốn, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng và hướng tới các kênh huy động dài hạn hơn.
Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc phát triển thị trường vốn, đặc biệt là kênh trái phiếu doanh nghiệp, không chỉ cho lĩnh vực bất động sản mà cho toàn bộ nền kinh tế. Đa dạng hóa nguồn vốn được xem là giải pháp then chốt nhằm giảm thiểu rủi ro và tạo nền tảng ổn định cho thị trường trong dài hạn.
Đồng quan điểm, TS. Đinh Thế Hiển cho rằng để phát triển bền vững doanh nghiệp bất động sản cần thay đổi cách tiếp cận, chuyển từ phụ thuộc vào nguồn vốn ngắn hạn sang các nguồn vốn trung và dài hạn.
Theo đó hoạt động đầu tư cần quay về đúng bản chất, dựa trên dòng vốn dài hạn, minh bạch và ổn định hơn. Chỉ khi tách bạch được vốn ngắn hạn của hệ thống ngân hàng với nhu cầu đầu tư dài hạn, thị trường mới có thể thoát khỏi vòng xoáy “giải cứu” và vận hành theo giá trị thực.
Ở góc độ chính sách, các chuyên gia cho rằng cần có cách điều hành tín dụng linh hoạt hơn thay vì áp dụng cơ chế cứng nhắc. Việc định hướng dòng vốn vào các phân khúc đáp ứng nhu cầu thực như nhà ở, bất động sản công nghiệp hay logistics sẽ góp phần giúp thị trường phát triển cân bằng, hạn chế rủi ro lệch pha cung – cầu.
Nhà máy chế biến dừa Á Châu II là nhà máy chế biến dừa thứ hai thuộc Công ty Cổ phần chế biến dừa Á Châu ACP, một đơn vị thành viên của Tập đoàn Nguyên liệu Á Châu (AIG). Tiếp nối Nhà máy chế biến dừa Á Châu I, Nhà máy chế biến dừa Á Châu II tiếp tục phát huy lợi thế của thủ phủ dừa Vĩnh Long, góp phần đưa ngành dừa Việt Nam bứt phá mạnh mẽ hơn.
Tham gia lễ động thổ Nhà máy chế biến dừa Á Châu II, ông Nguyễn Trúc Sơn - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long - đánh giá cao nỗ lực của Tập đoàn Nguyên liệu Á Châu (AIG): "Việc doanh nghiệp tiếp tục mở rộng đầu tư là thông điệp mạnh mẽ gửi tới cộng đồng nhà đầu tư về một môi trường kinh doanh minh bạch, thông thoáng và đầy tiềm năng của tỉnh. Tôi kỳ vọng nhà máy sẽ sớm hoàn thành, đưa những sản phẩm dừa của Vĩnh Long vươn xa trên thị trường quốc tế".
Trong hơn 10 năm phát triển, Tập đoàn Nguyên liệu Á Châu (AIG) đã nỗ lực đầu tư phát triển Nhà máy chế biến dừa Á Châu I, cung ứng cho thị trường toàn cầu đa dạng sản phẩm từ nước dừa đóng hộp, cơm dừa sấy khô, bột sữa dừa, nước cốt dừa, dầu dừa… Với mong muốn đáp ứng sự ưa chuộng của khách hàng trên thế giới, Nhà máy chế biến dừa Á Châu II tiếp tục được đầu tư hệ thống dây chuyền trang thiết bị hiện đại hàng đầu EU, đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng khắt khe của thị trường toàn cầu.
Theo đó, Nhà máy chế biến dừa Á Châu II được triển khai đồng bộ với ba hạng mục trọng điểm gồm dây chuyền công nghệ tiệt trùng UHT được chuyển giao từ Tetra Pak (Thụy Điển) - tập đoàn hàng đầu thế giới về giải pháp chế biến và đóng gói thực phẩm, có công suất 48.000 tấn/năm; dây chuyền nước cốt dừa đông lạnh công suất 16.000 tấn/năm; và hai dây chuyền cơm dừa nạo sấy với tổng công suất 2.400 tấn/năm. Toàn bộ hệ thống dây chuyền và thiết bị được nhập khẩu từ châu Âu, đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng khắt khe của thị trường quốc tế.
Ông Frederick Cruchet - Giám đốc điều hành quản lý dự án Tetra Pak khu vực Đông Nam Á - phát biểu tại lễ động thổ: "Chúng tôi tự hào được đồng hành cùng quý vị với vai trò đối tác cung cấp giải pháp toàn diện đồng bộ - từ chế biến đến đóng gói cho dự án mở rộng then chốt này. Nhà máy này không chỉ chế biến và tạo ra những sản phẩm dừa chất lượng hàng đầu thế giới, mang đến những công nghệ sản xuất dừa tiên tiến".
Được đầu tư với tổng vốn gần 630 tỉ đồng trên diện tích gần 60.000 m², Nhà máy chế biến dừa Á Châu II dự kiến sẽ đi vào vận hành từ quý I/2027, góp phần thúc đẩy mở rộng vùng nguyên liệu dừa quy mô công nghiệp tại Vĩnh Long, tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân và đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững tại địa phương.
Đặc biệt, việc đầu tư, phát triển Nhà máy chế biến dừa Á Châu II là một trong những nỗ lực của Tập đoàn Nguyên liệu Á Châu (AIG) hướng tới đưa Công ty Cổ phần chế biến dừa Á Châu (ACP) trở thành doanh nghiệp chế biến dừa lớn nhất Việt Nam, góp phần thực hiện tầm nhìn đưa Việt Nam vươn lên thành trung tâm chế biến, xuất khẩu nguyên liệu nông sản chất lượng cao hàng đầu thế giới.
Việt Nam hiện là một trong những quốc gia hàng đầu thế giới về sản xuất và xuất khẩu nông sản, thuộc nhóm 20 nền kinh tế dẫn đầu toàn cầu tính theo quy mô xuất khẩu và GDP. Là tập đoàn hàng đầu tại Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất nguyên liệu tự nhiên và cung ứng giải pháp nguyên liệu toàn diện cho lĩnh vực khoa học đời sống, Tập đoàn Nguyên liệu Á Châu (AIG) trong gần 25 năm phát triển luôn nỗ lực phát huy tiềm năng và thế mạnh nông sản Việt. Tầm nhìn đó đã được AIG bền bỉ hiện thực hóa dựa trên ba trụ cột chiến lược gồm: phát triển bền vững vùng nguyên liệu; nghiên cứu - phát triển sản phẩm kết hợp đầu tư công nghệ chế biến hiện đại và xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam mang tầm vóc quốc tế.
Đến nay, AIG đã phát triển hệ sinh thái các công ty thành viên vận hành nhiều nhà máy chế biến sâu tại các vùng nguyên liệu trọng điểm trên cả nước, từ miền Bắc, miền Trung, Đông Nam bộ đến Đồng bằng sông Cửu Long. Các sản phẩm nông sản chế biến sâu của AIG hiện đã xuất khẩu tới hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ, bao gồm Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc và các thị trường Halal tiềm năng tại Trung Đông.
Đồng thời, với tầm nhìn góp phần nâng cao vị thế ngành nguyên liệu nông sản Việt trên bản đồ thế giới cùng tinh thần tiên phong, sáng tạo không ngừng và nỗ lực đầu tư công nghệ, trang thiết bị, nâng cao năng lực sản xuất, Tập đoàn Nguyên liệu Á Châu (AIG) luôn đồng hành cùng các đối tác toàn cầu thực hiện chiến lược phát triển bền vững, theo mô hình vận hành xanh và hội nhập quốc tế.
Theo đó, Tập đoàn Nguyên liệu Á Châu (AIG) đã hợp tác cùng Tổ chức Tài chính quốc tế IFC - thành viên của World Bank Group thực hiện tư vấn cho Nhà máy Chế biến Dừa Á Châu II trong việc xây dựng các tiêu chuẩn ESG, quản lý và báo cáo phát thải, góp phần nâng cao năng lực vận hành theo các chuẩn mực quốc tế.
Sự hợp tác cùng IFC và World Bank không chỉ mang ý nghĩa chiến lược đối với nhà máy ACP 2, mà còn khẳng định cam kết mạnh mẽ của Tập đoàn Nguyên liệu Á Châu (AIG) trong hành trình phát triển bền vững, tạo ra những giá trị dài hạn cho ngành nông sản chế biến sâu của Việt Nam.
Trước đó, Tập đoàn Nguyên liệu Á Châu (AIG) đã có buổi đón tiếp và làm việc với ông Masayuki Omoto - Tổng giám đốc Tập đoàn Marubeni (Nhật Bản) cùng phái đoàn nhằm tăng cường kết nối với các đối tác quốc tế, hướng đến phát triển doanh nghiệp mang tầm vóc quốc tế, đem đến cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu cho các nguyên liệu tự nhiên bản địa của Việt Nam.
Với chiến lược dài hạn và toàn diện, Tập đoàn Nguyên liệu Á Châu (AIG) đang từng bước đưa nguyên liệu Việt tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Lễ động thổ Nhà máy chế biến dừa Á Châu II tiếp tục khẳng định vị thế tiên phong của Tập đoàn Nguyên liệu Á Châu (AIG) trong lĩnh vực chế biến nguyên liệu nông sản, cũng như đánh dấu một cột mốc ý nghĩa trên hành trình gần 25 năm bền bỉ đổi mới, sáng tạo và phát triển bền vững của AIG nhằm góp phần đưa Việt Nam trở thành trung tâm chế biến và xuất khẩu nguyên liệu nông sản chất lượng cao hàng đầu thế giới.
Cục Thuế (Bộ Tài chính) vừa có công văn đề nghị các tổ chức phối hợp ngăn chặn hành vi doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh gian lận thuế thông qua sử dụng song song 2 hệ thống sổ sách kế toán tài chính.
Trao đổi với Thanh Niên, ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán thuế Keytas, phân tích, 2 sổ sách là gồm sổ nội bộ và sổ thuế. Sổ nội bộ để lưu trữ nội bộ tại doanh nghiệp, sổ thuế là sổ được dùng để báo cáo cho cơ quan thuế.
Thông thường, sổ nội bộ sẽ ghi nhận đầy đủ nghiệp vụ doanh thu và chi phí thực tế xảy ra của hoạt động kinh doanh. Điều này đồng nghĩa, sổ nội bộ thường có doanh thu và lợi nhuận cao hơn sổ nộp cho cơ quan thuế.
Khi doanh nghiệp, hộ kinh doanh ghi nhận 2 sổ, với sổ nội bộ có doanh thu lớn hơn sổ thuế, tức sẽ tạo ra một khoản chênh lệch doanh thu.
Khoản chênh lệch doanh thu này sẽ được nhận bằng tài khoản cá nhân hoặc nhận bằng tiền mặt. Bởi ở sổ thuế, khách hàng đã thanh toán chuyển khoản qua tài khoản của doanh nghiệp hoặc chủ hộ kinh doanh.
Như vậy, một khoản tiền chưa được xuất hóa đơn, chưa được ghi nhận doanh thu đã được chuyển vào tài khoản cá nhân, hoặc nhận bằng tiền mặt. Điều này sẽ đặt doanh nghiệp, hộ kinh doanh trước các rủi ro như: bị phạt hành vi không xuất hóa đơn khi bán hàng, cung cấp dịch vụ. Theo Nghị định 310/2025/NĐ-CP, mức phạt có thể lên đến 80 triệu đồng.
"Ngoài ra, tiền vào tài khoản cá nhân hoặc nhận tiền mặt (nhưng chưa xuất hóa đơn), tức một khoản doanh thu chưa được ghi nhận. Doanh nghiệp và hộ kinh doanh sẽ bị truy thu khoản thuế thiếu; đồng thời có thể bị phạt 1 - 3 lần số tiền thuế trốn. Đáng chú ý, hành vi trốn thuế có thể dẫn đến việc bị khởi tố hình sự để răn đe", ông Tuấn nhấn mạnh.
Vị chuyên gia phân tích, cơ quan thuế có nhiều biện pháp để giám sát dòng tiền cũng như tình trạng một doanh nghiệp, hộ kinh doanh duy trì song song 2 sổ sách.
Thứ nhất là quản lý dựa trên dữ liệu của bên thứ ba: kiểm soát đầu vào của hộ kinh doanh và doanh nghiệp, khi buộc bên bán phải xuất hóa đơn đầy đủ thông tin tên, địa chỉ, mã số thuế của hộ kinh doanh và doanh nghiệp; kiểm soát dòng tiền ở các đơn vị vận chuyển, dòng tiền ở các sàn thương mại điện tử.
"Trong trường hợp có dấu hiệu nghi ngờ trốn thuế, cơ quan thuế có quyền yêu cầu sao kê tài khoản ngân hàng cá nhân của chủ doanh nghiệp, hoặc chủ hộ kinh doanh, hoặc người thân của chủ doanh nghiệp, chủ hộ kinh doanh để xác minh nghĩa vụ thuế", ông Tuấn nói.
Thứ hai là kiểm soát từ hệ thống nhận diện rủi ro của cơ quan thuế: thông qua hệ thống dữ liệu tập trung của ngành thuế, cơ quan thuế có thể nhận diện các trường hợp đáng ngờ thông qua các hệ số rủi ro được thiết lập. Trong đó, hệ số rủi ro giá vốn/doanh thu được sử dụng phổ biến, vì dễ phát hiện các dấu hiệu rủi ro tại doanh nghiệp.
Một cách cơ bản, cơ quan thuế sẽ so sánh hệ số rủi ro giá vốn/doanh thu của từng doanh nghiệp, so với bình quân ngành của tất cả doanh nghiệp trong cùng một ngành nghề. Khi tỷ lệ này cao một cách bất thường, cơ quan thuế sẽ yêu cầu doanh nghiệp giải trình bằng hồ sơ, số liệu thực tế.
Ông Tuấn cho biết, khi tỷ lệ giá vốn/doanh thu cao bất thường, có 2 khả năng xảy ra:
Giá vốn cao bất thường xảy ra khi doanh nghiệp kê khống chi phí, bằng cách kê khai khống chi phí lương hoặc mua hóa đơn để ghi nhận thêm chi phí không có thực. Khi đó, chi phí của doanh nghiệp tăng lên, dẫn đến lợi nhuận đóng thuế giảm, hoặc lỗ để không phải đóng thuế.
Doanh thu thấp bất thường xảy ra khi một lượng lớn doanh thu không được ghi nhận. Trường hợp phổ biến là doanh nghiệp bán hàng cho người dân, hoặc đối tượng không có nhu cầu lấy hóa đơn.
Khi đó, doanh nghiệp sẽ nhận tiền vào tài khoản cá nhân của chủ doanh nghiệp, thay vì tài khoản mang tên của doanh nghiệp; hoặc khách hàng trả tiền mặt, nhưng chủ doanh nghiệp không hoàn trả về doanh nghiệp để ghi nhận dòng tiền, doanh thu tại doanh nghiệp, mà đưa về thẳng cho cá nhân chủ doanh nghiệp. Điều này dẫn đến hành vi không xuất hóa đơn đầu ra để thực hiện nghĩa vụ thuế tại doanh nghiệp.
"Trong giai đoạn hiện nay, cơ sở dữ liệu tập trung của ngành thuế đang dần hình thành khi người nộp thuế đã định danh trên VNeID, ứng dụng eTax Mobile đang dần hoàn thiện, dữ liệu hóa đơn điện tử được cập nhật hàng ngày…
Cơ quan thuế có đủ thông tin, công cụ để nhận diện các doanh nghiệp, hộ kinh doanh có dấu hiệu trốn thuế, nghĩa là hành vi lập 2 sổ sách khó giấu doanh thu hơn ngày xưa rất nhiều. Doanh nghiệp, chủ hộ kinh doanh cần chú ý tuân thủ đúng chính sách pháp luật, đảm bảo môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng", ông Tuấn khuyến cáo.
Từ đầu năm tới nay, nhiều tháng liên tiếp Việt Nam nhập siêu. Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), trong tháng 4 và tháng 5, mức nhập siêu lần lượt là 3,28 tỉ USD và 5,21 tỉ USD. Tính chung 5 tháng qua, Việt Nam nhập siêu tới 13,8 tỉ USD, trong khi cùng kỳ năm trước xuất siêu 5,1 tỉ USD.
Về chuyện cán cân thương mại chuyển sang trạng thái nhập siêu, ông Trần Thanh Hải, Phó cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương), cho rằng, nguyên nhân trước hết là xung đột tại Trung Đông làm gián đoạn nguồn cung, đẩy giá năng lượng tăng cao, khiến nhập khẩu và nhập siêu nhóm năng lượng gia tăng.
Cạnh đó, giá dầu tăng kéo theo giá các nguyên liệu đầu vào như hóa chất, chất dẻo, sắt thép tăng, làm mở rộng mức nhập siêu của các nhóm hàng này.
"Các doanh nghiệp FDI, đặc biệt trong lĩnh vực điện tử và linh kiện máy tính đẩy mạnh nhập khẩu nguyên liệu, linh kiện phục vụ sản xuất và tích trữ hàng tồn kho trước nguy cơ giá tiếp tục tăng. Đồng thời, giải ngân vốn FDI tích cực và nhu cầu đầu tư cho chuyển đổi số, khoa học - công nghệ gia tăng đã thúc đẩy nhập khẩu máy móc, thiết bị và linh kiện công nghệ cao", ông Hải nói.
Lãnh đạo Cục Xuất nhập còn đề cập, các ngành xuất khẩu chủ lực tạo thặng dư thương mại như dệt may, da giày, đồ gỗ, nông sản và thủy sản dù vẫn đang tăng trưởng nhưng gặp khó khăn.
TS kinh tế Lê Bá Chí Nhân phân tích, việc chuyển từ trạng thái xuất siêu sang nhập siêu mạnh trong nửa đầu năm xuất phát từ 3 nhóm nguyên nhân mang tính cấu trúc.
Thứ nhất, nhu cầu nhập khẩu tư liệu sản xuất tăng rất mạnh. Việt Nam vẫn là nền kinh tế có độ mở cao, khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo - động lực tăng trưởng chính phụ thuộc lớn vào nguyên liệu, linh kiện và máy móc nhập khẩu.
Khi dòng vốn FDI tiếp tục đổ vào (đặc biệt các dự án công nghệ cao, bán dẫn, điện tử), nhập khẩu thường dẫn trước xuất khẩu từ 3 - 6 tháng do quy trình sản xuất và chu kỳ hoàn thành đơn hàng.
Thứ hai, doanh nghiệp đang chủ động tích trữ nguyên liệu trước rủi ro bên ngoài. Căng thẳng địa chính trị (Trung Đông, Nga - Ukraine), nguy cơ gián đoạn chuỗi cung ứng, cùng xu hướng bảo hộ thương mại mới (Mỹ, EU) khiến các nhà xuất khẩu Việt Nam tăng dự trữ để đảm bảo liên tục sản xuất.
"Ngoài ra, giai đoạn triển khai mạnh của các dự án đầu tư quy mô lớn trong lĩnh vực hạ tầng, năng lượng tái tạo, công nghệ bán dẫn và chuyển đổi số đã kéo theo nhập khẩu thiết bị, dây chuyền công nghệ có giá trị rất cao. Nhóm hàng này mang tính chất đầu tư dài hạn, góp phần nâng cao năng lực sản xuất nội địa chứ không phải tiêu dùng cuối cùng", ông Nhân nói.
Theo ông Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính - Ngân hàng (Trường đại học Nguyễn Trãi), mặt tích cực là cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam hiện nay chủ yếu phục vụ sản xuất, xuất khẩu và đầu tư.
Nếu nguồn nguyên liệu, máy móc và linh kiện nhập khẩu được chuyển hóa thành sản phẩm xuất khẩu có giá trị gia tăng cao trong những tháng tới, mức nhập siêu hiện nay có thể được xem là khoản đầu tư cho tăng trưởng tương lai.
Tuy nhiên, nhập siêu tăng mạnh và kéo dài cũng đặt ra một số vấn đề cần lưu ý. Điều này cho thấy mức độ phụ thuộc của nhiều ngành sản xuất vào nguồn nguyên liệu và linh kiện nhập khẩu còn khá lớn. Đây là điểm nghẽn lâu nay khi tỷ lệ nội địa hóa trong nhiều ngành công nghiệp chủ lực chưa đạt kỳ vọng.
Ngoài ra, nếu nhập siêu kéo dài trong khi xuất khẩu phục hồi chậm, áp lực đối với tỷ giá, cán cân thanh toán và thị trường ngoại hối có thể gia tăng.
"Đáng quan tâm nhất không nằm ở nhập khẩu tăng, mà nằm ở khả năng hấp thụ của nền kinh tế và sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu. Nếu nhập khẩu tăng mạnh nhưng đầu ra xuất khẩu không cải thiện tương ứng, hiệu quả sử dụng nguồn lực sẽ bị ảnh hưởng", ông Huy nhấn mạnh.
Cho rằng nhập siêu gần 14 tỉ USD chưa phải tín hiệu "báo động đỏ" nếu tiếp tục phục vụ sản xuất và đầu tư, theo ông Nhân, cần nhìn nhận thận trọng, khoa học nhưng không hoang mang thái quá. Nhiều nền kinh tế công nghiệp hóa thành công (Hàn Quốc, Trung Quốc giai đoạn đầu) đều trải qua giai đoạn nhập siêu kéo dài để phục vụ công nghiệp hóa.
Tuy nhiên, đây chính là thời điểm then chốt để đẩy mạnh tái cơ cấu công nghiệp, nâng tỷ lệ nội địa hóa và xây dựng chuỗi cung ứng bền vững hơn.