Trong nhiều năm làm nghề kiến trúc và nghiên cứu phong thủy khoa học, tôi gặp không ít người tìm đến với cùng một câu hỏi: “Anh xem giúp em, có phải nhà em có vấn đề về phong thủy không? Em bế tắc quá!”.
Người thì công việc liên tục trục trặc. Người thì gia đình thường xuyên căng thẳng. Có người lại lo lắng vì sức khỏe giảm sút hoặc con cái gặp nhiều vấn đề trong học tập… Dường như mỗi khi cuộc sống xuất hiện biến cố, nhiều người sẽ nghĩ ngay đến việc ngôi nhà của mình đang có vấn đề về phong thủy.
Nhưng sau hàng trăm lần kiểm nghiệm thực tế, tôi nhận ra một điều: rất nhiều trường hợp, thứ cần thay đổi đầu tiên không phải là ngôi nhà, mà là cách nhìn nhận vấn đề của chính người đang sống trong đó. Phong thủy xét cho cùng, là nghệ thuật tổ chức không gian sống hài hòa với quy luật tự nhiên, để con người sống khỏe hơn về thể chất và tinh thần. Nó không phải là chiếc đũa thần có thể giải quyết mọi khó khăn của cuộc sống.
Tôi từng đến khảo sát một căn biệt thự khá đẹp tại Quận 1, TP HCM. Phong thủy không quá xấu, thế nhưng chủ nhà luôn mang tâm lý nặng nề. Chuyện gì xảy ra họ cũng nghĩ theo hướng tiêu cực. Công việc gặp trở ngại thì cho rằng vận hạn. Vợ chồng có mâu thuẫn thì nghĩ do phong thủy xấu. Trong quá trình trò chuyện, tôi nhận thấy gia chủ chưa thực sự nhạy bén trong công việc, khá gia trưởng trong gia đình và có phần bảo thủ trong suy nghĩ.
Tôi từ chối thiết kế cải tạo phong thủy cho công trình này. Bởi tôi có thể điều chỉnh không gian sống, nhưng không thể thay đổi tư duy của một con người. Phong thủy có ba yếu tố: thiên thời, địa lợi và nhân hòa. “Thiên thời” là vận khí, là hoàn cảnh bên ngoài. Phong thủy ngôi nhà thuộc về “địa lợi”. Còn “nhân hòa” đến từ sự nỗ lực và tu dưỡng bản thân của mỗi người. Cả ba yếu tố đều có vai trò nhất định, nhưng tôi luôn xem “nhân hòa” là yếu tố quan trọng nhất.
>> Nhà ‘tối giản’ thành ‘tối tăm’ vì thầy phong thủy bắt bịt hết cửa sổ
Trong một trường hợp khác, tôi tư vấn phong thủy cho một người đàn ông tại TP Thủ Đức. Ngôi nhà rất bình thường, thậm chí còn khá chật chội. Nhưng bước vào nhà, điều đầu tiên tôi cảm nhận được là tiếng cười, sự gắn kết và ấn tượng nhất là cách họ dạy con rất văn minh, biết tạo động lực cho con. Căn nhà ngột ngạt, thiếu ánh sáng và khí tự nhiên, khiến con cái không hứng thú học hành. Tôi làm mới lại không gian học, đục ô giếng trời, thay đổi vị trí ngồi sát cửa sổ, trang trí cây xanh, ngăn thêm vách cách âm cho phòng học.
Cuối học kỳ đó, con của họ đạt danh hiệu Học sinh giỏi sau nhiều năm chỉ có học lực trung bình. Thực ra, tôi không giúp bé có thành tích tốt ngay tức khắc, tôi không phải phù thủy. Tôi chỉ tạo môi trường học tập thoải mái, để khơi gợi cho bé bộc lộ hết khả năng. Kết quả này là do sự cố gắng của bản thân bé và sự động viên, hỗ trợ của gia đình.
Trong tâm lý học có thuật ngữ “Cognitive Reframing” (tái định khung nhận thức). Đây là quá trình thay đổi cách nhìn nhận một vấn đề theo hướng tích cực hơn, giúp giảm áp lực tâm lý, lấy lại sự bình tĩnh để nhìn thấy những cơ hội mới, từ đó chủ động hành động thay vì bế tắc trong hoàn cảnh.
Một người lỡ chuyến xe sẽ bực bội cả ngày vì cho rằng mình gặp xui xẻo. Người khác chỉ mỉm cười và đợi chuyến tiếp theo, vì họ nghĩ biết đâu sự chậm trễ này giúp họ tránh được một rủi ro nào đó dọc đường. Sự việc giống nhau, nhưng trải nghiệm cuộc sống lại hoàn toàn khác.
Khi đối diện với bệnh tật, đặc biệt là những căn bệnh nghiêm trọng, sự hoảng loạn thường khiến con người mất phương hướng. Ngược lại, sự bình tĩnh giúp họ chủ động điều trị, xây dựng lối sống lành mạnh và kiên trì hơn trên hành trình hồi phục. Tinh thần tích cực không phải là thuốc chữa bệnh. Nhưng nó giúp con người có thêm sức mạnh để đi qua bệnh tật.
Trong công việc cũng vậy. Nhiều người xem thất bại là dấu chấm hết. Nhưng phần lớn những doanh nhân thành công mà tôi từng có cơ hội tiếp xúc, đều nhìn thất bại như một khoản học phí để mua bài học kinh nghiệm. Họ dùng các kiến thức của bài học đó, để điều chỉnh chiến lược, tránh lặp lại sai lầm và tiếp tục bước về phía trước. Chính góc nhìn đó tạo nên sự thành công.
Tôi nhớ gia đình người phụ nữ ở Đồng Nai, từng than phiền rất nhiều về căn nhà nhỏ của mình. Chị luôn cảm thấy thua kém vì không sở hữu không gian rộng rãi như người khác. Chị muốn đổi nhà rộng hơn để phong thủy tốt hơn, nhưng chồng không chịu, vì tài chính không cho phép. Từ đó xảy ra mâu thuẫn của hai vợ chồng. Chị nhờ tôi đến kiểm tra phong thủy gia đạo.
Vài năm sau khi gặp lại tôi, chị tự hào chia sẻ: “Chính vì diện tích vừa phải nên các thành viên thường xuyên gặp nhau hơn. Những bữa cơm ít bị bỏ lỡ. Con cái trò chuyện với cha mẹ nhiều hơn. Khoảng cách giữa các thế hệ cũng gần gũi hơn. Giờ chị đã nhận ra, nhà lớn chưa chắc mang lại vui vẻ và nhà nhỏ cũng không đồng nghĩa với thiếu thốn. Chị hài lòng về cuộc sống hiện tại”.
Từ lúc cải tạo phong thủy nhà chị tới nay, tôi chưa làm nhà chị rộng thêm mét vuông nào, nhưng phong thủy của chị đã thay đổi. Giá trị của không gian sống không chỉ nằm ở số mét vuông xây dựng, mà còn nằm ở những cảm xúc tích cực, được nuôi dưỡng bên trong nó.
Làm nghề kiến trúc và phong thủy càng lâu, tôi càng tin rằng yếu tố quan trọng nhất của một ngôi nhà không nằm ở hướng cửa, vị trí bếp, giường, bàn thờ hay số đo Lỗ Ban. Điều quan trọng nhất là nguồn năng lượng của những người đang sống bên trong.
Một căn nhà thường xuyên có tiếng cười, sự sẻ chia và lòng biết ơn, thường tạo cảm giác dễ chịu hơn nhiều so với một căn nhà đầy trách móc, căng thẳng và bi quan. Người xưa gọi đó là “nhân khí”. Đó là một trong những yếu tố phong thủy mạnh mẽ nhất, mà chỉ chính mỗi người mới có thể tạo dựng và nuôi dưỡng.
Vì vậy, khi cuộc sống gặp khó khăn, đừng vội cho rằng mọi vấn đề đều xuất phát từ phong thủy của ngôi nhà. Bạn hãy thử nhìn lại chính mình trước. Biết đâu điều đầu tiên cần điều chỉnh không phải hướng nhà, mà là hướng suy nghĩ. Không phải cải tạo không gian sống, mà là thay đổi tâm thế sống – “tâm an vạn sự an”.
Tôi là thành viên của một nhóm học thuật trên mạng xã hội từ lâu. Thành viên của nhóm là người Việt Nam trên toàn thế giới đã, đang và sẽ có ý định đi theo con đường học thuật.
Đến nay, số thành viên đã hơn trăm nghìn và tôi tin trong đó rất nhiều đã tốt nghiệp tiến sĩ. Đây là tín hiệu tích cực. Phần nhiều trong số đó đang định cư tại nước ngoài và có ý định trở về Việt Nam sinh sống, làm việc.
Cũng nhiều trong số đó đã lập gia đình, có con cái. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi đưa ra quan sát cá nhân về nhưng bài viết và bình luận trên nhóm kết hợp với những trường hợp mình quan sát ngoài đời thực.
Việc ở lại làm đúng chuyên ngành, có vị trí ổn định nói chung, đặc biệt trong môi trường học thuật là điều khó vô cùng. Khi một vị trí đưa ra là có tới hàng trăm, hàng nghìn hồ sơ xuất sắc trên thế giới ứng nộp chưa kể xác suất cao là hội đồng đã có ứng viên sáng giá được đề cử trước dựa trên năng lực và mạng lưới quen biết.
Tôi sống ở Đức và làm việc trong ngành Y sinh. Tôi biết không ít người làm xong tiến sĩ nhưng rồi để đi tới đích là một vị trí vĩnh viễn trong ngành học thuật chỉ đếm đầu ngón tay.
Có nhiều người cố gắng làm sau tiến sĩ (Postdoc) đến khi nào hết quy định thì thôi (thường là 12 năm làm nghiên cứu và không tìm được vị trí vĩnh viễn). Lúc này bài toán đặt ra và vô cũng nan giải. Làm gì tiếp theo khi mà con cái đã lớn đều đã hòa nhập tốt vào môi trường bên này? Ở lại thì không có việc phù hợp.
Nhiều người đi làm việc bình thường trong siêu thị, bệnh viện, nhà máy với mức thu nhập tối thiểu theo quy định như những người không được đào tạo. Nếu ai hài lòng thì tốt, cả gia đình tổng hòa sẽ vui vẻ.
Nhưng nếu không chấp nhận, cơn bão ngầm bắt đầu nổi lên khi họ muốn về nước để tìm được công việc phù hợp, được tôn trọng và còn một lý do khác nữa là gần cha mẹ già.
Mọi thứ sẽ thực sự không dễ thở với những ai có gia đình, con cái. Ở bên này, anh em có dịp nói chuyện với nhau đều thống nhất rằng nếu hai vợ chồng đi làm mức lương tối thiểu thì cơ bản sẽ đủ tiêu và dư chút. Hàng năm vẫn đi chơi thoải mái và vài năm về nước một lần.
Ba vấn đề tôi mạn phép chia sẻ ở đây là nhà ở, y tế và môi trường nghiên cứu.
Đầu tiên là nhà ở, nước Đức có tỷ lệ sở hữu nhà riêng là khoảng 50%. Tức là 50% số người như tôi vẫn đang đi thuê mà rất yên tâm. Luật của Đức bảo vệ quyền lợi người thuê bằng quy định.
Chủ cho thuê không đuổi vô tội vạ trừ khi người thuê làm hỏng nhà đến mức tệ hoặc chủ muốn lấy lại nhà để ở hoặc cho con. Giá cho thuê chỉ được tăng vài phần trăm sau vài năm.
Tuy có một số mặt trái nhưng đa phần người thuê sẽ yên tâm khi ở nhà thuê trong khoảng thời gian dài. Nếu mua nhà sở hữu thì sẽ phải tuân thủ quy định về thời gian sau ở bao lâu mới được bán cũng như đóng thuế phần chênh lệch.
Có lẽ đó là hai yếu tố chính khiến thị trường mua và thuê ở đây có sự ổn định, không tăng giảm quá sốc.
Tôi nghĩ nếu cơ quan chức năng vào cuộc và đưa các quy định rõ ràng hơn và ràng buộc pháp lý khi thuê nhà cũng như mua nhà thì đại đa số người dân trong đó có những người muốn trở về sẽ không phải quá trăn trở về chỗ ở, một khoản chi tiêu lớn hàng tháng cho hộ gia đình.
Về y tế, Đức thực hiện chính sách y tế toàn dân. Tức là ai cũng có bảo hiểm và được chữa trị giá hợp lí, không phát sinh nhiều chi phí y tế ngoài bảo hiểm. Đặc biệt Đức chịu chi rất nhiều cho khám sàng lọc ở mọi lứa tuổi.
Họ biết rằng nếu chi cho sàng lọc tốt thì chữa sẽ giảm chi phí nhiều. Bên cạnh việc chi thường xuyên cho nhiều xét nghiệm sàng lọc thường niên, một sáng kiến rất hay đưa ra là một năm một người sẽ được bảo hiểm công chi tới 500 Euro cho sàng lọc phụ thêm như sàng lọc ung thư da, làm sạch răng, tiêm phòng ra nước ngoài...
Chúng ta có thể bắt đầu bằng những gói phụ sàng lọc hỗ trợ từ năm trăm nghìn đến vài triệu đồng một năm tùy đối tượng. Làm được tốt từ khâu khám sàng lọc thì khâu chữa chúng ta sẽ tiết kiệm được chi phí y tế rất nhiều, một cấu thành lớn trong chi tiêu mà những người đang ở bên nước phát triển có nền y tế toàn dân rất quan tâm khi trở về.
Việc xin dự án nghiên cứu ở Đức là tương đối cạnh tranh và minh bạch. Nhà khoa học được dành nhiều thời gian cho nghiên cứu và có thời gian không quá nhiều cho giảng dạy.
Việt Nam vẫn nên duy trì các quỹ nghiên cứu, đó là mạch máu nuôi dưỡng sức sống của người làm khoa học.
Về phía mỗi cá nhân, khi trở về đều nên hiểu và chuẩn bị cho một kịch bản sống mang nhiều khác biệt. Lấy việc ở gần cha mẹ, họ hàng, được nói ngôn ngữ của mình là điểm cộng để tự động viên bản thân cho hành trình trở về.
Ngay cả tại Trung Quốc, một nước đi trước chúng ta nhiều năm, quá trình đi và trở về cũng đang diễn ra và như những đồng nghiệp, hàng xóm tôi biết người Trung Quốc ở bên Đức, việc đi hay ở cũng không thuận lợi với bất kỳ ai.
Quyết định cuối cùng là của mỗi cá nhân và xin chúc mọi người đều vui vẻ với quyết định của mình.
Chiều hôm qua, sau khi xong việc, tôi tranh thủ về quê vì tính chạy buổi tối cho mát. Đúng như dự đoán và cũng đúng như mọi dịp lễ Tết từ trước đến nay xe vẫn kẹt ở cầu Bến Lức.
Với người dân miền Tây đi theo Quốc lộ 1, cầu Bến Lức là huyết mạch phải đi qua. Dịp lễ Tết nào được nghỉ dài ngày cũng xuất hiện hai đợt kẹt xe, một đi một về.
Điều đó cho thấy đây không phải vấn đề đột xuất mà tất yếu xảy ra khi lưu lượng xe tăng bất thường. Đây là nút thắt cố hữu và hoàn toàn có thể can thiệp được nếu có sự chú tâm đúng mức.
Quan sát từ thực tế, tôi nhận thấy hai đèn tín hiệu ở hai đầu cầu là một trong những tác nhân gây ùn tắc cục bộ. Từ góc nhìn của người đã nhiều lần bị dính kẹt xe tại điểm này, tôi có vài giải pháp góp ý như sau:
Trước hết, điều chỉnh chu kỳ đèn theo thời điểm cao điểm: Kéo dài pha đèn xanh cho các phương tiện di chuyển theo Quốc lộ 1.
Tiếp đến là nghiên cứu phân làn linh hoạt theo chiều lưu lượng: Khi một bên kẹt cứng trong khi làn kế bên trống trải, hoàn toàn có thể tạm thời ưu tiên thêm làn cho hướng đông xe hơn.
Mấy năm nay, cứ mỗi dịp lễ Tết là rạp lại sôi động với phim Việt, doanh thu trăm tỷ đồng liên tiếp được công bố như một niềm tự hào. Nhưng với tôi, sự hào hứng ấy đã không còn.
Tôi vẫn đi xem phim, nhưng hiếm khi chọn phim Việt. Chẳng phải vì tôi quay lưng với điện ảnh nước nhà, mà vì tôi đã quá mệt mỏi với cảm giác... bị dẫn dắt rồi cảm giác như bị lừa.
Không thể phủ nhận, điện ảnh Việt Nam đã tiến bộ rõ rệt. Từ kỹ thuật quay dựng, âm thanh, ánh sáng cho đến quy mô sản xuất đều đã tiệm cận chuẩn quốc tế.
Nhưng song hành với sự phát triển đó là một cuộc đua quảng cáo trên các nền tảng mạng xã hội ngày càng phô trương, thậm chí lệch hướng. Quảng bá không còn là giới thiệu sản phẩm, mà dần trở thành một cuộc thổi phồng kỳ vọng.
Tôi từng là khán giả ủng hộ phim Việt. Tôi đã từng háo hức ra rạp, từng tự hào khi thấy những bộ phim trong nước làm tốt, chạm đến cảm xúc.
Nhưng rồi, cảm xúc đó bị bào mòn không phải bởi chất lượng phim đi xuống, mà bởi cách người ta nói về phim bằng những cụm từ như "tuyệt đối điện ảnh", "cỡ phim Oscar", "khóc lụt rạp", "bắt buộc phải xem phim này nha", "xứng đáng trăm tỉ"...
Điều đáng nói là không phải khán giả tự nói với nhau, mà phần lớn đến từ các KOLs, reviewer. Tôi đã vài lần mua vé chỉ vì đọc những lời khen đó. Và rồi bước ra khỏi rạp với cảm giác hụt hẫng. Phim thì không hẳn là dở nhưng hoàn toàn không xứng với những gì đã được tung hô.
Điều đáng tiếc là những người làm truyền thông quảng bá phim dường như không nhận ra hoặc không muốn nhận ra hệ quả lâu dài. Khán giả có thể bị thuyết phục một lần, hai lần. Nhưng khi niềm tin đã mất, họ sẽ không quay lại dễ dàng. Và khi đó, mọi chiến dịch PR dù rầm rộ đến đâu cũng chỉ là tiếng vang trong khoảng trống.
Một nền điện ảnh không thể phát triển bền vững nếu dựa vào sự cường điệu. Khán giả ngày nay không thiếu lựa chọn. Họ có thể xem phim từ khắp nơi trên thế giới, với đủ thể loại và chất lượng. Điều giữ họ ở lại với phim Việt không phải là những lời khen mà là sự chân thật từ chính bộ phim và cả cách bộ phim được giới thiệu.
Nếu cứ khen lấy khen để, các bạn chỉ "lừa" được những khán giả như tôi vài lần thôi, và rồi sau đó... không có sau đó nữa, vì bây giờ các bạn có khen như vậy chứ khen hơn nữa tôi cũng chẳng tin.
Có lẽ đã đến lúc ngành phim cần nhìn lại rằng khán giả không cần những "tuyệt phẩm", mà cần những bộ phim tử tế, được nói đúng với giá trị của nó.