10 chuyên đề ôn tập môn giáo dục kinh tế và pháp luật thuộc chương trình Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT đạt điểm cao năm 2026 do cô Võ Thị Hậu, giáo viên Trường THPT Marie Curie (P.Xuân Hòa), hướng dẫn được phát ở chuyên mục giáo dục trên các nền tảng: thanhnien.vn, fanpage Facebook và kênh YouTube của Báo Thanh Niên.
Trong chuyên đề 4 – Lập kế hoạch kinh doanh – giáo viên hướng dẫn học sinh nêu được nội dung cơ bản của kế hoạch kinh doanh, có thể giải thích được sự cần thiết phải lập kế hoạch kinh doanh, đồng thời có thể diễn giải được các bước lập kế hoạch kinh doanh.
Trước đó, vào ngày 29.4, tại chuyên đề 3 – Bảo hiểm và an sinh xã hội – giáo viên giúp học sinh nêu được khái niệm bảo hiểm và vai trò của bảo hiểm; Giải thích được một cách đơn giản sự cần thiết của bảo hiểm và liệt kê được một số loại hình bảo hiểm (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm thương mại. Giúp học sinh nêu được khái niệm an sinh xã hội, gọi tên được các chính sách xã hội cơ bản (chính sách việc làm, thu nhập, giảm nghèo; chính sách bảo hiểm xã hội; chính sách trợ giúp xã hội và chính sách dịch vụ xã hội cơ bản). Từ đó giải thích được sự cần thiết và vai trò của an sinh xã hội.
Từ 20.4 đến 23.5, vào các khung giờ cố định (16 giờ 30, 18 giờ 30 và 20 giờ 30) thứ hai đến thứ bảy hàng tuần, Báo Thanh Niên lần lượt phát sóng trực tiếp 88 chuyên đề Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT đạt điểm cao tại các địa chỉ thanhnien.vn, Facebook.com/thanhnien và YouTube Báo Thanh Niên.
88 chuyên đề ôn tập kiến thức do các giáo viên giàu kinh nghiệm tại TP.HCM xây dựng, gồm: Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, chuyên Trần Đại Nghĩa, Bùi Thị Xuân, Lê Quý Đôn, Marie Curie, Nguyễn Hiền, quốc tế Á Châu… Qua mỗi chuyên đề ôn thi trực tuyến, giáo viên sẽ giúp học sinh tiết kiệm thời gian, tận dụng lợi thế của công nghệ để hứng thú với việc học, tích lũy kiến thức cho kỳ thi quan trọng sắp đến.
Sau các khung giờ nói trên, các chuyên đề vẫn xuất hiện trên các nền tảng thanhnien.vn, Facebook.com/thanhnien và YouTube Thanh Niên. Học sinh sử dụng bất kỳ thiết bị (điện thoại thông minh, máy tính cá nhân hay máy tính cố định) và chỉ cần kết nối internet đều có thể tiếp cận nội dung hệ thống kiến thức của 9 môn thi trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026.
Lịch phát sóng tuần từ 27.4 đến 2.5 các chuyên đề ôn thi tốt nghiệp năm 2026
Tin Gốc: Thanh Niên
Giáo Dục
Thi lớp 10 TPHCM năm 2026: Những lưu ý để "ôm trọn" điểm bài thi ngữ văn

Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 công lập tại TPHCM năm 2026 sẽ diễn ra vào ngày 1 và 2/6. Trong sáng nay (31/5), thí sinh đến điểm thi sinh hoạt quy chế.
Trong ba môn thi bắt buộc, ngữ văn thường là môn khiến nhiều học sinh vừa kỳ vọng vừa áp lực bởi không chỉ kiểm tra kiến thức mà còn đánh giá khả năng đọc hiểu, tư duy, cảm nhận và trình bày quan điểm cá nhân.
Theo thông báo của Sở GD&ĐT TPHCM về cấu trúc, yêu cầu đánh giá và bảng năng lực, cấp độ tư duy đề tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2026-2027, đề thi môn ngữ văn tiếp tục bám sát định hướng của Chương trình giáo dục phổ thông 2018.
Các yêu cầu cần đạt về đọc hiểu và viết trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 - môn ngữ văn cấp THCS, chủ yếu là lớp 8 và lớp 9.
Ngữ liệu ngoài sách giáo khoa
Một trong những điểm thí sinh cần lưu ý là phần đọc hiểu sử dụng ngữ liệu ngoài sách giáo khoa.
Cụ thể, đề thi có thể khai thác văn bản văn học và một trong hai loại: văn bản nghị luận hoặc văn bản thông tin. Tổng dung lượng ngữ liệu trong đề không vượt quá 1.300 chữ.
Việc sử dụng ngữ liệu ngoài sách giáo khoa đồng nghĩa học sinh không thể học thuộc lòng hay "đoán tủ", mà cần chú trọng rèn kỹ năng đọc hiểu, phân tích, nhận diện vấn đề và vận dụng kiến thức đã học.
Cấu trúc đề thi gồm hai phần, tổng 10 điểm
Công bố của Sở GD&ĐT TPHCM, đề thi được chia thành hai phần.
Phần 1 là đọc hiểu văn bản văn học và viết đoạn văn (5 điểm). Trong đó, câu 1 đọc hiểu (3 điểm) và câu 2 viết đoạn văn (2 điểm).
Phần 2 là đọc hiểu văn bản nghị luận hoặc văn bản thông tin và viết bài văn nghị luận xã hội (5 điểm). Phần này được bố cục câu 1 đọc hiểu (1 điểm) và câu 2 viết bài văn nghị luận xã hội (4 điểm).
Đề thi được xây dựng theo định hướng tích hợp giữa năng lực đọc hiểu và năng lực viết. Nội dung phần viết sẽ có sự liên hệ với văn bản ở phần đọc hiểu.
Điều này đòi hỏi học sinh không chỉ hiểu văn bản mà còn phải biết kết nối, phân tích và đưa ra quan điểm cá nhân.
Phần viết yêu cầu rõ quan điểm và lập luận thuyết phục
Ở phần viết đoạn văn khoảng 200 chữ, thí sinh có thể gặp một trong hai dạng: Ghi lại cảm nghĩ về một bài thơ hoặc đoạn thơ hoặc phân tích nội dung chủ đề, những nét đặc sắc về nghệ thuật và hiệu quả thẩm mỹ của tác phẩm.
Đối với bài văn nghị luận xã hội, đề có thể yêu cầu nghị luận về một vấn đề đời sống hoặc nghị luận về một vấn đề cần giải quyết và đề xuất giải pháp.
Theo cấu trúc này, học sinh cần tránh cách viết chung chung, kể lể dài dòng. Bài viết cần thể hiện rõ quan điểm đồng tình hoặc phản đối, có lý lẽ và dẫn chứng phù hợp.
Những kiến thức tiếng Việt cần đặc biệt lưu ý
Sở GD&ĐT TPHCM cho biết đề thi được xây dựng theo định hướng tích hợp giữa đánh giá năng lực đọc hiểu và năng lực viết, nội dung trong phần viết có liên quan đến văn bản ở phần đọc hiểu.
Trong đề có 1 câu hỏi về tiếng Việt trong phần đọc hiểu văn bản văn học. Một số kiến thức tiếng Việt cần lưu ý gồm: Đặc điểm và tác dụng của biện pháp tu từ ẩn dụ, hoán dụ, nói quá, nói giảm nói tránh, đảo ngữ, câu hỏi tu từ, điệp thanh, điệp vần; Đặc điểm và tác dụng của từ tượng hình và từ tượng thanh; Đặc điểm và chức năng của thành phần biệt lập trong câu; Nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn của câu; Đặc điểm và chức năng của câu khiến, câu cảm, câu rút gọn và câu đặc biệt.
Học sinh cũng cần lưu ý về sự khác nhau giữa cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp; cách dùng dấu câu khi dẫn trực tiếp và gián tiếp.
Xem thêm Đề tham khảo thi vào lớp 10 TPHCM năm 2026:
Mời bạn đọc theo dõi đề thi và đáp án tuyển sinh lớp 10 năm 2026 của các tỉnh, thành được cập nhật liên tục tại: Đề thi và đáp án thi lớp 10 năm 2026 của tất cả 34 tỉnh, thành
Tin Gốc: Dân Trí

Mới đây, tại buổi tiếp xúc cử tri Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhận định kỳ thi lớp 10 hiện nay "căng thẳng hơn cả thi đại học (ĐH)". Nhận định này phản ánh đúng thực trạng áp lực mà học sinh (HS), phụ huynh và xã hội đang phải đối mặt.
Bản chất tuyển sinh lớp 10 hiện nay là một cuộc "sàng lọc" bằng giải pháp hành chính khi nhiều địa phương thiếu trường lớp và giáo viên (GV). Để giảm số HS vào trường công, các địa phương buộc phải tổ chức thi tuyển với mức cạnh tranh rất cao. Điều này đi ngược mục tiêu phổ cập giáo dục trung học mà VN hướng tới vào năm 2035, tức mọi HS sau THCS đều có cơ hội tiếp tục học THPT, trung học nghề hoặc giáo dục thường xuyên.
Một HS đã hoàn thành giáo dục bắt buộc THCS phải được tiếp tục học tập bình thường. Thế nhưng tại Hà Nội hay TP.HCM, có nơi tỷ lệ chọi vào lớp 10 ở một số trường khá cao khiến có HS không vào được trường công không phải vì học yếu mà vì thiếu chỗ học.
Năm học 2026-2027, Hà Nội chỉ có khoảng 55% HS tốt nghiệp THCS được vào THPT công lập, giảm mạnh so với các năm trước. Theo số liệu HS đăng ký nguyện vọng 1 vào lớp 10 các trường THPT công lập năm học 2026-2027 do Sở GD-ĐT TP.HCM công bố, có khoảng 79,4% sẽ trúng tuyển vào trường công.
Điều đó cho thấy áp lực tuyển sinh lớp 10 vẫn đặc biệt gay gắt, phản ánh nghịch lý: chủ trương phổ cập đến hết lớp 12 đã rõ nhưng hạ tầng và đội ngũ GV vẫn chưa theo kịp.
Trong nhiều năm, VN tự hào về thành tựu phổ cập giáo dục THCS và hướng đến mục tiêu phổ cập giáo dục hết phổ thông. Nhưng ngay sau lớp 9, một cuộc cạnh tranh khốc liệt, dẫn đến mục tiêu phổ cập bị đứt gãy giữa chừng.
Ở bản chất sâu xa, tuyển sinh lớp 10 đại trà hiện nay không phải là đánh giá năng lực HS, mà là cơ chế phân bổ sự thiếu hụt nguồn lực giáo dục. Khi số lượng trường lớp công lập không đủ, kỳ thi trở thành "van điều tiết" để giảm áp lực cho hệ thống.
Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm rất đáng chú ý khi nhấn mạnh: "Thi cử để đánh giá chất lượng dạy và học, không phải để loại các cháu ra khỏi trường học". Đây không chỉ là góc nhìn nhân văn, mà còn là tư duy giáo dục tiến bộ của nhiều quốc gia phát triển.
Ở phần lớn các nước có nền giáo dục tiên tiến, giáo dục THPT gần như đã được phổ cập. HS có thể khác nhau về định hướng con đường học tập, nghề nghiệp và chương trình học, nhưng đều không bị loại khỏi hệ thống giáo dục và đào tạo chỉ vì thiếu chỗ học.
Một mâu thuẫn khác nằm ở chủ trương phân luồng sau THCS. Về mục tiêu cũng như khoa học giáo dục, việc phân luồng là cần thiết. Một quốc gia hiện đại không thể chỉ đào tạo cử nhân ĐH hay kỹ sư mà cần cả công nhân kỹ thuật, kỹ sư thực hành, chuyên gia công nghệ, nhân lực dịch vụ và lao động sáng tạo.
Nhưng ở VN hiện nay, phân luồng chưa thực sự dựa trên sự tự nguyện và hấp dẫn nghề nghiệp. Nhiều HS vào giáo dục nghề nghiệp không phải vì yêu thích kỹ thuật hay có khả năng thực hành rõ ràng, mà vì không đậu trường THPT công lập hay không có điều kiện kinh tế để học trường tư thục. Đây là khác biệt lớn giữa VN và các nước tiên tiến, việc học các trường nghề là tự nguyện, đào tạo có chất lượng và học viên vẫn có nhiều cơ hội phát triển lâu dài.
Khi học nghề bị xem như "lựa chọn thứ hai", phân luồng sẽ khó thành công. Phụ huynh vẫn tìm mọi cách để con vào THPT rồi ĐH bởi bằng ĐH hiện vẫn có ưu thế rõ rệt trên thị trường lao động. Trong khi đó, nhiều ngành nghề kỹ thuật dù xã hội thiếu nhân lực nhưng thu nhập chưa tương xứng, cơ hội thăng tiến còn hạn chế và hình ảnh xã hội chưa đủ hấp dẫn.
Do đó, nếu không thay đổi cấu trúc thị trường lao động và nâng vị thế giáo dục nghề nghiệp, HS và phụ huynh chủ yếu cũng chỉ chọn con đường vào lớp 10 công lập.
Nghịch lý của giáo dục VN là càng kêu gọi giảm áp lực thì HS càng học thêm nhiều hơn. Kỳ thi lớp 10 khiến nhiều HS lớp 9 sống trong căng thẳng kéo dài, học thêm liên tục. Với nhiều gia đình, năm lớp 9 trở thành "năm bản lề" đầy áp lực.
Nguyên nhân bởi phía sau kỳ thi là nỗi lo rất thực tế: nếu không vào được trường công, chi phí học trường tư sẽ tăng cao hoặc HS phải đi học xa nhà, khó bảo đảm việc học lâu dài. Vì vậy, tuyển sinh lớp 10 hiện nay không chỉ là áp lực giáo dục mà còn là gánh nặng kinh tế đối với nhiều gia đình.
Muốn giảm áp lực thi lớp 10, không chỉ thay đổi đề thi hay quy chế tuyển sinh mà cần xem giáo dục phổ thông là quyền học tập phải được bảo đảm cho mọi HS. Tuy nhiên, giảm áp lực không đồng nghĩa buông lỏng chất lượng. Nhiều địa phương từng xét tuyển học bạ thay cho thi tuyển để giảm căng thẳng, nhưng cách làm này cũng bộc lộ hạn chế khi động lực học tập giảm, dễ phát sinh tiêu cực và chất lượng đầu vào THPT đi xuống. Thực tế đó khiến một số tỉnh như Đắk Lắk và Quảng Nam (cũ) phải khôi phục thi tuyển lớp 10 sau nhiều năm xét tuyển.
Vì vậy, giải pháp không phải bỏ thi hoàn toàn hay duy trì thi cử quá nặng nề, mà cần cơ chế đánh giá cân bằng hơn, kết hợp học bạ với đánh giá năng lực để vừa giảm áp lực vừa bảo đảm chất lượng thực chất.
Gốc rễ của áp lực tuyển sinh lớp 10 nằm ở 3 vấn đề lớn: thiếu trường lớp và GV, bất bình đẳng cơ hội tiếp cận giáo dục chất lượng, và thị trường lao động chưa hợp lý; vì vậy cần thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ.
Trước hết, VN cần thực sự hướng đến phổ cập THPT và tương đương bằng cách đầu tư mạnh cho trường lớp, đặc biệt ở các đô thị tăng dân số nhanh. Chính quyền phải chủ động dự báo quy mô HS, không để tình trạng thiếu trường kéo dài. Đồng thời phải thu hẹp khoảng cách chất lượng giữa các trường để giảm tâm lý chạy đua vào trường top.
Đổi mới giáo dục nghề nghiệp, nâng cao chất lượng đào tạo và tạo cơ hội học lên cao hơn. Khi con đường nghề nghiệp đủ hấp dẫn, áp lực dồn vào THPT sẽ giảm tự nhiên.
Tin Gốc: Thanh Niên

Sự thiếu hụt trầm trọng nhân lực ngành điều dưỡng đặt ra yêu cầu cấp bách về việc thu hút tuyển sinh và đào tạo người học trong các trường ĐH và CĐ.
Chia sẻ về vấn đề này, tiến sĩ Vương Ánh Dương, Phó cục trưởng Cục Quản lý khám chữa bệnh, Bộ Y tế, cho biết VN hiện chỉ có khoảng 14-15 điều dưỡng/1 vạn dân trong khi Nghị quyết 20 của Ban Chấp hành T.Ư năm 2017 đặt ra mục tiêu đến năm 2025 phải có 25 điều dưỡng/1 vạn dân và năm 2030 là 33 điều dưỡng/1 vạn dân.
"Tỷ lệ này đang thuộc nhóm thấp của ASEAN. Thái Lan có khoảng 20-25 điều dưỡng/1 vạn dân, Malaysia khoảng 30-35, Singapore trên 70; các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế OECD trung bình từ 80-120. Chúng ta đang phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt điều dưỡng cả về số lượng, cơ cấu và chất lượng chuyên môn so với yêu cầu thực tế và so với mặt bằng chung của khu vực cũng như thế giới", tiến sĩ Dương nhận định.
Theo khảo sát của Cục Quản lý khám chữa bệnh, trong cùng một ca trực, trung bình một điều dưỡng tại khoa hồi sức tích cực phải chăm sóc từ 3-4 bệnh nhân.
"Khi số lượng điều dưỡng không đủ, người bệnh không được theo dõi và chăm sóc toàn diện, liên tục. Tại nhiều khoa lâm sàng, đặc biệt là hồi sức tích cực, một tỷ lệ lớn bệnh viện (BV) vẫn phải huy động người nhà người bệnh tham gia hỗ trợ chăm sóc thường ngày", ông Dương cho hay.
Hiện nay, VN có trên 100 cơ sở tham gia đào tạo điều dưỡng, tuy nhiên không phải trường nào cũng tuyển được đủ chỉ tiêu hằng năm. Năm 2025, hàng loạt trường phải tuyển bổ sung ngành điều dưỡng như Trường ĐH Y Dược (ĐH Huế, 65 chỉ tiêu), Trường ĐH Y Dược Thái Bình (86 chỉ tiêu), Trường ĐH Y Dược Hải Phòng (60 chỉ tiêu)… Trường ĐH Tây Nguyên tuyển 34 chỉ tiêu ngành điều dưỡng ở phương thức xét điểm thi tốt nghiệp thì không có thí sinh (TS) nào nhập học, tổng chỉ tiêu của các phương thức là 48 thì có khoảng 41 TS nhập học.
Các cơ sở đào tạo như ĐH Phenikaa, ĐH Duy Tân, các trường ĐH Văn Lang, Quốc tế Hồng Bàng, Nguyễn Tất Thành, Tân Tạo... đều phải tuyển bổ sung ngành này.
Ở bậc CĐ, số lượng người học ngành điều dưỡng cũng giảm nhiều so với những năm trước. Tiến sĩ Lê Lâm, Hiệu trưởng Trường CĐ Đại Việt Sài Gòn, cho biết: "Cách đây khoảng chục năm, TS đăng ký ngành này rất đông. Thời điểm hiện tại, nhu cầu nhân lực cần nhiều do hệ thống BV tư phát triển, BV công nâng cấp mở rộng, nhưng tại trường, người học điều dưỡng giảm từ 50-70%".
Trong một nghiên cứu của giảng viên Phạm Dương Thanh Tâm và Nguyễn Thị Thảo Ngọc, Khoa Điều dưỡng - Kỹ thuật y học Trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch, hầu hết sinh viên các ngành điều dưỡng, dược và y khoa được phỏng vấn đều cho rằng nghề điều dưỡng vất vả và áp lực nhất trong hệ thống y tế.
"Định kiến về ngành điều dưỡng còn chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các yếu tố gia đình, truyền thông và môi trường. Sinh viên cả 3 ngành trên đều nhận định ngành điều dưỡng thiếu vai trò lãnh đạo và cơ hội thăng tiến trong bộ máy quản lý. Hình ảnh người điều dưỡng bị lu mờ, ít được ghi nhận những đóng góp. Các gia đình có xu hướng thiên vị các ngành y đa khoa, dược hơn là điều dưỡng", nhóm nghiên cứu chia sẻ.
Tiến sĩ Nguyễn Thị Phương Uyên, Phó khoa Điều dưỡng - Hộ sinh Trường ĐH Quốc tế Hồng Bàng, nêu sự thiếu hụt điều dưỡng tại VN đến từ nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, chế độ đãi ngộ và mức lương chưa tương xứng khi lương khởi điểm của một điều dưỡng mới ra trường tại các BV công lập hiện nay còn thấp.
"Thứ hai là áp lực công việc. Vì thiếu nguồn điều dưỡng nên một số điều dưỡng phải chăm sóc số lượng bệnh nhân nhiều hơn so với tiêu chuẩn khuyến cáo. Bên cạnh đó là áp lực từ người nhà bệnh nhân cùng với trực đêm dẫn đến dễ kiệt sức. Vị thế xã hội chưa được nhìn nhận đúng khi trong tâm thức của nhiều người dân, bác sĩ là người ra y lệnh, còn điều dưỡng chỉ là người làm theo", tiến sĩ Uyên nhận định.
Tuy nhiên, theo tiến sĩ Uyên, hiện nay có 2 nhóm TS nhận thức theo 2 hướng. Một là e ngại vì vẫn còn định kiến, coi điều dưỡng là công việc phục vụ, vất vả, trực đêm hôm nhưng thu nhập không tương xứng. Do đó, tỷ lệ TS chọn ngành điều dưỡng có xu hướng sụt giảm. Nhiều trường gặp khó khăn trong việc tuyển sinh đủ chỉ tiêu.
"Trong khi đó, nhóm còn lại vẫn yêu ngành do được xã hội trọng dụng và dễ kiếm việc làm do cầu cao, đặc biệt cơ hội chuyển dịch lao động quốc tế. Các em có thể tới các thị trường lớn như Đức, Nhật Bản, Canada, Úc, Đài Loan với nhiều chương trình học bổng, tuyển dụng với mức lương rất cao và cơ hội định cư rõ ràng", tiến sĩ Uyên thông tin.
Tiến sĩ Lưu Nguyễn Đức Hạnh, Phó khoa Điều dưỡng Trường ĐH Nguyễn Tất Thành, cũng cho hay bên cạnh nhóm TS e ngại thì vẫn có nhiều bạn trẻ nhận thấy điều dưỡng là công việc có tính ổn định cao, nhu cầu xã hội lớn và vị thế của người điều dưỡng trong hệ thống y tế hiện đại đã được nâng tầm, không còn đơn thuần là người hỗ trợ mà là một cộng sự quan trọng trong quá trình chăm sóc người bệnh.
Để giải quyết bài toán thiếu hụt nhân lực và giữ chân sinh viên với nghề, tiến sĩ Đức Hạnh nêu: "Chương trình học của các trường phải bám sát thực tế, chú trọng kỹ năng lâm sàng. Giảng viên giàu kinh nghiệm và tâm huyết để truyền lửa nghề cho sinh viên. Bên cạnh đó, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị đào tạo và cơ sở thực tập. Khi sinh viên nhìn thấy cơ hội việc làm rộng mở, thu nhập ổn định và môi trường làm việc chuyên nghiệp ngay sau khi tốt nghiệp, các em sẽ tự tin theo đuổi nghề".
Trong khi đó, tiến sĩ Nguyễn Thị Anh, Phó khoa Điều dưỡng - Hộ sinh Trường ĐH Quốc tế Hồng Bàng, cho rằng Bộ Y tế và các cơ quan ban ngành cần ban hành chính sách tăng lương cơ bản, tăng phụ cấp ưu đãi nghề, đặc biệt là phụ cấp trực đêm, phụ cấp độc hại riêng cho khối điều dưỡng để họ yên tâm sống được với nghề.
"Phải đẩy mạnh truyền thông để xã hội hiểu rằng điều dưỡng là một ngành khoa học chăm sóc độc lập, phối hợp bình đẳng với bác sĩ chứ không phải nghề phụ thuộc. Môi trường làm việc cũng nên được cải thiện, giảm tải thủ tục hành chính bằng cách ứng dụng công nghệ thông tin để họ có nhiều thời gian tập trung vào chuyên môn chăm sóc người bệnh, giảm áp lực tâm lý", tiến sĩ Ánh chia sẻ thêm.
Theo tiến sĩ Ánh, nhà nước cũng có thể cân nhắc áp dụng chính sách miễn giảm học phí hoặc cấp học bổng cho sinh viên theo học ngành điều dưỡng nhằm thu hút học sinh nộp hồ sơ.
Tin Gốc: Thanh Niên

