Từng nghĩ đến những điểm đến phổ biến như Mỹ hoặc Úc song Phạm Minh Hiển, học sinh Trường THPT chuyên Nguyễn Thiện Thành (Trà Vinh), mới đây quyết định chọn Đài Loan cho hành trình ĐH tới vì chất lượng đào tạo, chi phí hợp lý, nhiều học bổng lẫn cơ hội phát triển sau tốt nghiệp. “Đài Loan còn có thế mạnh ở các ngành công nghệ cao, bán dẫn và trí tuệ nhân tạo (AI), đều là những lĩnh vực mình muốn theo đuổi”, Hiển chia sẻ.
Nam sinh nhận định, người học thời nay “thực tế hơn”, cân nhắc kỹ các yếu tố về học thuật, tài chính và cơ hội việc làm của từng điểm đến thay vì cứ mặc định chọn Mỹ, Anh hoặc Úc theo “danh tiếng có sẵn”. Riêng với trường hợp của Hiển, bài toán cần giải là phải cân bằng giữa chi phí với giá trị nhận lại, bởi gia đình không dư dả tài chính. “Điều quan trọng không phải là quốc gia nổi tiếng nhất, mà là nơi phù hợp nhất với bản thân”, Hiển nhấn mạnh.
“Mình du học không chỉ để có tấm bằng mà còn tìm cơ hội để phát triển năng lực, mở rộng góc nhìn và tạo nền tảng cho sự nghiệp lâu dài”, Hiển nói thêm.
Sắp tới, Hiển sẽ theo học ngành khoa học máy tính và kỹ thuật thông tin tại ĐH Công nghệ Đài Bắc (NTUT). Thời điểm hiện tại, nam sinh đang tập trung nâng cao trình độ tiếng Anh, cũng như học thêm tiếng Trung và tìm hiểu về văn hóa để hòa nhập nhanh hơn khi đến Đài Loan.
Nếu Minh Hiển chọn Đài Loan vì thế mạnh công nghệ và bài toán chi phí, thì với Lê Khánh Linh, học sinh vừa tốt nghiệp THPT tại TP.HCM, Singapore lại là nơi phù hợp để bạn theo đuổi định hướng phát triển trong lĩnh vực truyền thông quốc tế.
Chuẩn bị theo học truyền thông và tiếp thị tại Viện Quản lý Singapore (SIM), Linh cho biết điều thu hút cô tới nước này không phải vì đây là phương án “an toàn” hay “gần Việt Nam”, mà bởi Singapore là môi trường tập trung nhiều doanh nghiệp đa quốc gia, sự kiện quốc tế và cộng đồng sinh viên đến từ nhiều nền văn hóa khác nhau.
“Mình muốn đặt bản thân vào một môi trường mà mỗi ngày đều phải giao tiếp, hợp tác và cạnh tranh với những người giỏi đến từ nhiều quốc gia. Mình tin chính môi trường sẽ khiến mình trưởng thành nhanh hơn”, nữ sinh chia sẻ. “Điều mình muốn sau khi tốt nghiệp không chỉ là một tấm bằng, mà còn phải có khả năng làm việc trong môi trường toàn cầu”, cô nói thêm.
Đồng tình với Hiển, Linh cũng nhận định người học hiện nay đưa ra lựa chọn vừa thực tế, vừa cụ thể mục tiêu nghề nghiệp. Trước đây khi du học, nhiều người sẽ hỏi: “Nước nào nổi tiếng hơn?” còn bây giờ câu hỏi thường sẽ là: “Học ở đâu sẽ phù hợp với ngành mình muốn theo đuổi?, theo nữ sinh.
“Mình không chỉ so sánh học phí giữa các nước mà còn cân nhắc môi trường nào giúp thay đổi tư duy, xây dựng mạng lưới quan hệ và phát triển kỹ năng tốt nhất”, Linh nói thêm. Đó cũng là lý do bạn “chốt” Singapore, “không phải lựa chọn rẻ nhất hay dễ nhất” mà phù hợp nhất.
Câu chuyện của Minh Hiển và Khánh Linh cho thấy một điểm chung là nhiều học sinh bắt đầu nhìn du học như một khoản đầu tư dài hạn. Quyết định chọn điểm đến du học, bởi thế, không còn dựa chủ yếu vào danh tiếng quốc gia mà xuất phát từ câu hỏi quan trọng hơn là môi trường nào phù hợp với sự nghiệp muốn theo đuổi.
Tuy vậy, sự nổi lên của các điểm đến châu Á không đồng nghĩa việc các nước phương Tây mất sức hút. Điều khác biệt là sức hút của những quốc gia này ngày nay không còn đến từ danh tiếng, mà đến từ khả năng đáp ứng mục tiêu nghề nghiệp cụ thể của người học.
Với Dương Đông Phong, học sinh Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong (TP.HCM), quyết định chọn Mỹ đã được xác định từ sớm khi bạn định hướng theo ngành khoa học máy tính. “Mình sẽ học tại bang Texas vì đây là nơi có nhiều tập đoàn công nghệ đầu tư và phát triển. Mình cũng muốn học trong môi trường có nhiều cơ hội nghiên cứu, thực tập, làm việc đúng chuyên ngành sau khi tốt nghiệp”, bạn chia sẻ.
Còn ở góc độ phụ huynh, chị Phạm Ngọc Lan, mẹ của Phong, cho biết gia đình từng e ngại vì chi phí du học Mỹ khá cao. Tuy nhiên sau quá trình tìm hiểu, gia đình nhận thấy bài toán tài chính có thể giải quyết nếu có lộ trình phù hợp.
“Ban đầu tôi nghĩ du học Mỹ là điều rất khó vì chi phí lớn. Nhưng khi con được hỗ trợ học bổng khoảng 80% học phí, gia đình quyết định sẽ đầu tư vì trường có thế mạnh đúng ngành con theo đuổi”, chị Lan chia sẻ.
Theo chị, quan trọng nhất không phải là con mình học ở quốc gia nào mà là môi trường đó có giúp con phát triển đúng năng lực hay không. “Gia đình mong con đi học để tích lũy tri thức. Sau này con làm việc ở đâu là quyết định của con nhưng nền tảng kiến thức và tư duy mới là điều có giá trị lâu dài”, chị nói.
Theo tiến sĩ Lê Bảo Thắng, Giám đốc OSI Vietnam – đơn vị chuyên tư vấn du học các nước Mỹ, Anh, Úc – sự thay đổi lớn nhất hiện nay không nằm ở việc người học chuyển từ phương Tây sang châu Á, mà ở cách ra quyết định du học không dựa trên sự nổi tiếng mà chú trọng lợi tức đầu tư.
“Nói cách khác, nếu trước đây nhiều gia đình chọn điểm đến trước rồi mới chọn trường thì hiện nay, học sinh xác định ngành học và mục tiêu nghề nghiệp trước, sau đó mới tìm quốc gia có chương trình đào tạo phù hợp nhất. Và khi các gia đình không chạy theo tên tuổi mà bắt đầu cân nhắc sự phù hợp, quyết định du học sẽ bền vững hơn”, ông Thắng nhận định.
Theo ông, Mỹ hay Úc vẫn giữ sức hút nhờ chất lượng giáo dục và môi trường học tập quốc tế và cơ hội nghề nghiệp. Tuy nhiên, những nước này không còn là lựa chọn mặc định, khi gia đình ngày càng quan tâm đến tổng chi phí, học bổng, chính sách visa và triển vọng việc làm sau tốt nghiệp.
Ở nhóm các quốc gia, vùng lãnh thổ châu Á, bà Nguyễn Thị Khánh Vân, Giám đốc nghiệp vụ ở Du học Ưu Việt – đơn vị chuyên tư vấn du học Đài Loan, Trung Quốc – cũng ghi nhận xu hướng tương tự. Theo bà, khoảng 2 – 3 năm gần đây, Đài Loan đã trở thành điểm đến được nhiều gia đình cân nhắc ngay từ đầu thay vì chỉ là phương án thay thế.
Theo bà Vân, lợi thế của Đài Loan không chỉ nằm ở chi phí hợp lý, mà còn ở thế mạnh kỹ thuật và công nghệ cùng hệ thống các chương trình đào tạo bằng tiếng Anh cho du học sinh.
Trong 5 năm tới, nhu cầu học tập ở nước ngoài của người Việt được dự báo sẽ tiếp tục tăng nhưng trong một thị trường phân hóa mạnh hơn. Mỹ, Anh và Úc vẫn giữ vai trò quan trọng, song sẽ phải cạnh tranh sòng phẳng với nhiều quốc gia châu Á, châu Âu có chất lượng đào tạo tốt, chính sách ngày càng cởi mở và đi kèm đó là chi phí hợp lý.
Xu hướng du chọn theo ngành phù hợp thay vì theo danh tiếng điểm đến cũng sẽ ngày càng rõ nét, và những lĩnh vực như AI, bán dẫn, dữ liệu, kỹ thuật, logistics, y tế hay kinh tế xanh được dự báo sẽ tiếp tục thu hút sự quan tâm của người Việt. Đồng thời, những chương trình đào tạo chuyển tiếp, song bằng và liên kết đào tạo cũng sẽ phát triển mạnh, giúp người học tiếp cận giáo dục quốc tế với chi phí linh hoạt hơn.
Từ thực tế nêu trên, vai trò của đơn vị tư vấn du học cũng phải thay đổi, theo tiến sĩ Lê Bảo Thắng. Thay vì chỉ hỗ trợ hồ sơ hay visa, người làm tư vấn cần giúp học sinh xây dựng lộ trình nghề nghiệp, đánh giá năng lực và lựa chọn chương trình phù hợp.
“Phụ huynh sẽ không chỉ hỏi học bổng bao nhiêu hay có dễ đi không, mà sẽ quan tâm nhiều hơn đến chất lượng trường, nội dung chương trình và đầu ra sau tốt nghiệp. Đây là tiêu chí quyết định trong những năm tới”, bà nhận định.
Ngày 31.5, Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật Vĩnh Long tổ chức tổng kết năm học, trao bằng tốt nghiệp và đưa tân kỹ sư của nhà trường cùng thanh niên tỉnh Vĩnh Long sang Nhật Bản học tập, làm việc.
Đợt này, Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long có 576 học viên, sinh viên hoàn thành chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ và đại học. Trong đó, có 20 tân thạc sĩ hoàn thành khóa đào tạo 2 năm thuộc 5 ngành đào tạo và 556 tân cử nhân, kỹ sư, bác sĩ thú y hoàn thành khóa đào tạo 4 năm thuộc 24 ngành đào tạo đại học.
Trong số sinh viên tốt nghiệp, có 28 sinh viên đạt loại xuất sắc, 89 sinh viên đạt loại giỏi và 242 sinh viên đạt loại khá. Nhà trường đã tuyên dương, khen thưởng 9 sinh viên có kết quả học tập và rèn luyện toàn khóa đạt loại xuất sắc.
Cùng ngày, Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long tổ chức lễ xuất cảnh lần thứ 4, đưa 45 tân kỹ sư của trường và thanh niên tỉnh Vĩnh Long sang Nhật Bản học tập, làm việc.
Phát biểu tại buổi lễ, PGS-TS Nguyễn Thanh Tùng, Hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long, bày tỏ niềm tự hào khi chứng kiến các sinh viên trưởng thành, bản lĩnh và sẵn sàng bước vào môi trường làm việc quốc tế. Việc các sinh viên được tuyển chọn làm việc tại Nhật Bản là minh chứng rõ nét cho chất lượng đào tạo của nhà trường, cũng như hiệu quả của mô hình hợp tác giữa cơ sở đào tạo, doanh nghiệp trong nước và các tập đoàn quốc tế.
Nhà trường luôn kiên định định hướng đào tạo gắn với thực tiễn, lấy nhu cầu doanh nghiệp làm cơ sở để đổi mới chương trình đào tạo, nâng cao năng lực ngoại ngữ, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng hội nhập của người học.
Dịp này, Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long đã tổ chức hội chợ việc làm với sự tham gia của hơn 30 doanh nghiệp, đơn vị tuyển dụng trong và ngoài tỉnh. Sự kiện vừa mang đến hàng trăm cơ hội việc làm và thực tập cho sinh viên, vừa góp phần tăng cường sự gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ nhu cầu xã hội.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, ThS Đỗ Ngọc Anh - Giám đốc Trung tâm Truyền thông và Tuyển sinh, Trường đại học Mở Hà Nội - cho rằng chiến lược đăng ký nguyện vọng xét tuyển đại học năm 2026 phải đi theo từng tổ hợp, từng ngành, không dùng kinh nghiêm năm 2025 để suy đoán chung cho tất cả.
Theo ông Ngọc Anh, từ phổ điểm cho thấy tổ hợp A00 (toán, lý, hóa), B00 (toán, hóa, sinh) và D01 (toán, văn, tiếng Anh) có xu hướng thuận lợi hơn về điểm trung bình, A01 (toán, lý, tiếng Anh) giảm nhẹ, riêng C00 giảm mạnh (văn, sử, địa).
Điểm đáng chú ý là số thí sinh đạt điểm tuyệt đối rất ít, kể cả ở các tổ hợp có điểm trung bình tăng. Vì vậy khi dự báo điểm chuẩn, không nên chỉ nhìn điểm trung bình hay trung vị, mà cần đặc biệt quan tâm đến nhóm điểm cao: từ khoảng 24, 25, 26, 27 điểm trở lên. Đây mới là vùng quyết định điểm chuẩn của các ngành cạnh tranh.
Với tổ hợp A00, theo ông, tổ hợp này có số thí sinh tăng, điểm trung bình và trung vị nhích nhẹ, cho thấy mặt bằng chung tương đối ổn định và có phần tốt hơn năm trước.
Do đó với các ngành kỹ thuật, công nghệ, kỹ thuật máy tính, công nghệ thông tin, tự động hóa, điện tử, cơ khí… điểm chuẩn có thể ổn định hoặc nhích nhẹ, nhất là ở các trường, ngành có sức hút tốt. Tuy nhiên việc số điểm 30 giảm mạnh cho thấy nhóm cực cao không bùng nổ; do đó không nên dự báo tăng sốc nếu chưa có dữ liệu về số thí sinh đạt từ 26-28 điểm.
Với tổ hợp A01 giảm cả số thí sinh, điểm trung bình và trung vị. Về mặt phổ điểm thuần túy, áp lực cạnh tranh của tổ hợp này có thể giảm nhẹ so với năm 2025. Tuy nhiên đây vẫn là tổ hợp được nhiều ngành "nóng" sử dụng, đặc biệt là công nghệ, kinh tế, quản trị, logistics, thương mại điện tử, truyền thông số. Vì vậy điểm chuẩn A01 có thể giảm ở một số ngành/trường top giữa, nhưng ở ngành có nhu cầu cao thì vẫn có thể giữ ổn định.
B00 là tổ hợp có tín hiệu tăng mạnh nhất: số thí sinh tăng, điểm trung bình tăng rõ, trung vị tăng rất mạnh và số điểm 30 cũng tăng. Điều này tạo ra áp lực tăng điểm ở các ngành xét tuyển bằng B00, nhất là y dược, điều dưỡng, xét nghiệm, công nghệ sinh học, công nghệ thực phẩm, môi trường, nông nghiệp công nghệ cao.
Dự báo thận trọng là điểm chuẩn B00 có khả năng tăng rõ hơn các tổ hợp khác, nhưng mức tăng sẽ khác nhau: ngành y dược top đầu chịu áp lực mạnh hơn; các ngành ứng dụng như công nghệ sinh học, công nghệ thực phẩm có thể tăng vừa phải nếu chỉ tiêu không thay đổi lớn.
Tổ hợp C00 giảm mạnh cả điểm trung bình và trung vị. Đây là tín hiệu đáng chú ý nhất của phổ điểm năm nay. Nếu chỉ xét theo mặt bằng điểm, các ngành dùng C00 như luật, báo chí, truyền thông, sư phạm xã hội, quản lý nhà nước, quan hệ công chúng, xã hội học, văn hóa học… có thể chịu áp lực giảm điểm chuẩn. Tuy nhiên chưa thể kết luận mọi ngành C00 đều giảm sâu. Với trường top, ngành top, thí sinh giỏi vẫn có xu hướng tập trung đăng ký; khi nguồn chỉ tiêu ít, điểm chuẩn có thể chỉ giảm nhẹ hoặc giữ ở mức cao.
D01 giảm số thí sinh nhưng điểm trung bình và trung vị lại tăng. Điều này cho thấy quy mô người dự xét có thể hẹp hơn, nhưng chất lượng điểm ở nhóm giữa có xu hướng tốt hơn.
Với các ngành kinh tế, ngôn ngữ, quản trị, truyền thông, luật kinh tế, thương mại điện tử…, điểm chuẩn D01 có thể ổn định hoặc tăng nhẹ. Tuy nhiên tổ hợp này chịu tác động lớn từ chứng chỉ ngoại ngữ, phương thức xét tuyển kết hợp và quy đổi điểm, nên không thể dự báo chỉ từ phổ điểm thi tốt nghiệp.
Ông Ngọc Anh khuyến nghị thí sinh không nên chỉ nhìn điểm chuẩn năm ngoái rồi cộng, trừ cơ học. Năm nay cần so sánh điểm của mình với phổ điểm tổ hợp, xác định mình đang ở vùng nào: dưới trung vị, quanh trung vị, nhóm khá, nhóm cao hay nhóm rất cao. Sau đó mới chia nguyện vọng thành ba nhóm: nhóm mơ ước, nhóm phù hợp và nhóm an toàn.
Với các tổ hợp có xu hướng tăng như B00, D01 và một phần A00, thí sinh nên đặt nguyện vọng linh hoạt hơn, không dồn toàn bộ vào các ngành quá cạnh tranh. Với C00, dù phổ điểm giảm, thí sinh vẫn không nên chủ quan vì các ngành xã hội, luật, báo chí, truyền thông ở trường có thương hiệu vẫn có thể hút lượng lớn nguyện vọng chất lượng cao.
Theo báo cáo UK TNE in East Asia do Hội đồng Anh công bố tháng 5-2026, số sinh viên theo học các chương trình giáo dục xuyên quốc gia (TNE) của Anh tại Đông Á tiếp tục tăng trong năm học 2024-2025, đạt khoảng 212.600 người, bao gồm cả hình thức học từ xa.
Quy mô này tăng 5,6% so với năm trước và tăng 36% so với năm học 2019-2020. Trong giai đoạn 2014-2019, mức tăng chỉ là 3,3%.
Giáo dục xuyên quốc gia (TNE) của Anh là khái niệm chỉ các chương trình đào tạo của cơ sở giáo dục Anh được triển khai ngoài lãnh thổ Anh, thông qua nhiều hình thức như học tại phân hiệu đặt ở nước ngoài, học chuyển tiếp, học từ xa...
Báo cáo cho thấy sau đại dịch COVID-19, nhu cầu học chương trình Anh ngay tại khu vực Đông Á tiếp tục mở rộng. Trong bức tranh này, Việt Nam là một trong những thị trường nổi bật.
Trong năm học 2024-2025, Việt Nam có 13.285 sinh viên theo học các chương trình TNE, đứng thứ 5 trong các quốc gia và vùng lãnh thổ tại Đông Á, sau Trung Quốc, Malaysia, Singapore và Hong Kong.
Báo cáo cho biết số sinh viên TNE tại Việt Nam đã tăng hơn gấp ba lần kể từ sau đại dịch, đưa Việt Nam trở thành một ngoại lệ đáng chú ý trong khu vực.
Riêng trong năm học 2024-2025, Việt Nam tăng thêm 785 sinh viên so với năm trước. Trong khi đó cùng giai đoạn, Hong Kong giảm gần 2.000 sinh viên, tương đương khoảng 10%.
Báo cáo nhận định Việt Nam có khả năng vượt Hong Kong để trở thành thị trường TNE của Anh lớn thứ 4 Đông Á trong vài năm tới.
Năm thị trường lớn nhất gồm Trung Quốc, Malaysia, Singapore, Hong Kong và Việt Nam hiện chiếm gần 95% tổng số sinh viên TNE của Anh toàn khu vực. Trong đó, Trung Quốc có 94.700 sinh viên, chiếm hơn 44% toàn Đông Á, Malaysia có 46.415 sinh viên, Singapore có 29.605 sinh viên, Hong Kong có 16.875 sinh viên.
Báo cáo cũng ghi nhận sự thay đổi trong mối liên hệ giữa giáo dục xuyên quốc gia và du học trực tiếp tại Anh. Từ năm học 2019-2020, số sinh viên đăng ký học TNE của Anh tại Đông Á tăng 36%, trong khi số sinh viên Đông Á đăng ký học tại Anh giảm 3,3%.
Năm học 2024-2025, lần đầu tiên số sinh viên đăng ký học TNE của Anh tại Đông Á gần bằng số sinh viên Đông Á đang học tại Anh.
Tại Việt Nam, báo cáo ghi nhận tỉ lệ giữa số sinh viên đăng ký học TNE của Anh trong nước và số sinh viên sang Anh học trực tiếp là 3,57. Nghĩa là cứ 1 sinh viên Việt Nam chọn sang Anh học thì có khoảng 3,57 sinh viên chọn học chương trình TNE của Anh tại Việt Nam.
Tại Malaysia và Singapore, tỉ lệ lần lượt là 3,97 và 3,93. Theo các chuyên gia, số liệu này cho thấy nhu cầu tiếp cận chương trình và bằng cấp Anh tại Việt Nam và một số nước trong khu vực đang mở rộng theo hướng học tại chỗ hoặc học chuyển tiếp...
Đặc biệt trong bối cảnh chi phí du học quốc tế, yêu cầu visa và điều kiện tài chính là những yếu tố được nhiều gia đình cân nhắc, các chương trình giáo dục xuyên quốc gia được đánh giá có thêm dư địa phát triển tại những thị trường như Việt Nam.