Việt Nam – ‘quán quân’ FDI Đông Nam Á

Việt Nam - 'quán quân' FDI Đông Nam Á

Năm 2026, kinh tế toàn cầu ghi nhận sự đóng cửa chính thức của kỷ nguyên toàn cầu hóa cũ dưới áp lực từ các căng thẳng địa chính trị gia tăng. Lần đầu tiên trong lịch sử, dòng vốn FDI vào Trung Quốc ghi nhận thâm hụt ròng kỷ lục gần 170 tỉ USD. Dòng tiền khổng lồ này không hề biến mất mà đang tìm đường chảy mạnh vào khu vực Đông Nam Á thông qua chiến lược “Trung Quốc + 1”. Trong phân tích chuyên sâu về làn sóng dịch chuyển này, tạp chí The Diplomat đã đưa ra nhận định khẳng định rằng trong số 5 quốc gia Đông Nam Á hưởng lợi lớn nhất, VN chính là nhà “quán quân tuyệt đối”.

Phân tích từ The Diplomat chỉ ra chiến lược “Trung Quốc + 1” vốn nhen nhóm từ những năm 2000 do chi phí lao động tại Trung Quốc gia tăng. Nhưng làn sóng này chỉ thực sự bùng nổ thành cuộc di cư dây chuyền sau 3 cú hích lớn gồm: cuộc thương chiến Mỹ – Trung từ năm 2018 với các lệnh áp thuế khắt khe, đại dịch Covid-19 bộc lộ rủi ro chí mạng của việc tập trung chuỗi cung ứng, và các căng thẳng địa chính trị leo thang thúc đẩy các tập đoàn đa quốc gia tìm kiếm bến đỗ an toàn. Kết quả là dòng vốn FDI vào Đông Nam Á đã tăng vọt lên mức 236 tỉ USD.

Đáng chú ý, trong dòng chảy cạnh tranh thu hút vốn FDI, nếu như trước đây VN thường phải nỗ lực rất lớn để bám đuổi theo các “ông lớn” trong khu vực như Thái Lan (vốn là thủ phủ công nghiệp ô tô), Malaysia (mạnh về kiểm thử bán dẫn) hay Indonesia (quy mô thị trường và tài nguyên vượt trội), thì trong làn sóng tái cấu trúc này, VN đã bứt phá ngoạn mục để vươn lên vị trí top 1 – nhà “quán quân tuyệt đối”.

The Diplomat đánh giá VN đã vượt qua các đối thủ sừng sỏ trong top 5 Đông Nam Á nhờ hội tụ trọn vẹn những lợi thế độc nhất: vị trí địa lý chiến lược sát sườn Trung Quốc giúp tối ưu hóa chi phí logistics, chi phí nhân công cạnh tranh cùng mạng lưới hiệp định thương mại tự do (FTA) bao phủ rộng khắp. Nhờ đó, VN không chỉ thu hút vốn lắp ráp đơn thuần mà đã chính thức thay thế các đối thủ trong khu vực để trở thành mắt xích trung tâm, cầu nối chiến lược cho cả các tập đoàn phương Tây lẫn doanh nghiệp Trung Quốc trong việc duy trì và nâng cấp chuỗi cung ứng toàn cầu.

Trước danh hiệu “quán quân tuyệt đối” mà The Diplomat dành cho VN, hàng loạt báo cáo nghiệp vụ từ các tổ chức tài chính và tư vấn quốc tế cũng liên tục đưa ra những dự báo cực kỳ tích cực về vị thế của VN.

Báo cáo Kết nối toàn cầu DHL do DHL Express phối hợp với Trường Kinh doanh Stern thuộc Đại học New York (Mỹ) mới công bố, dự báo trong giai đoạn 2026 – 2030, VN sẽ ghi nhận mức tăng trưởng tuyệt đối về thương mại hàng hóa lớn thứ 4 toàn cầu, chỉ đứng sau 3 siêu nền kinh tế là Trung Quốc, Ấn Độ và Mỹ. Đồng thời, tổ chức này xếp VN đứng thứ 36 trên 180 nền kinh tế về Chỉ số Kết nối toàn cầu và thứ 5 thế giới về độ rộng của mạng lưới xuất khẩu.

Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cũng đánh giá VN tiếp tục duy trì đà tăng trưởng kinh tế thuộc nhóm đầu khu vực nhờ nỗ lực cải cách thể chế, đẩy mạnh đầu tư công vào hạ tầng và chính sách hỗ trợ khu vực tư nhân. Trong khi đó, Ngân hàng Standard Chartered nhấn mạnh VN là điểm sáng lớn nhất về thu hút FDI tại Đông Nam Á với sự gia tăng mạnh mẽ của dòng vốn giải ngân thực tế, phản ánh cam kết đầu tư dài hạn của các tập đoàn đa quốc gia. Ngoài ra, báo cáo Vietnam Investment Playbook của Acclime và PwC đã xếp VN vào nhóm “Nền kinh tế kết nối” (Connector Economy), đóng vai trò cầu nối chiến lược giúp các tập đoàn toàn cầu đa dạng hóa chuỗi cung ứng và giảm thiểu rủi ro địa chính trị.

Những nhận định và dự báo mang tính chiến lược của các tổ chức quốc tế đang được kiểm chứng bằng những con số thực tế đầy ấn tượng. Trong 6 tháng đầu năm, tổng vốn FDI đăng ký vào VN đã đạt con số kỷ lục 34,65 tỉ USD, tăng tới 61% so với cùng kỳ năm trước và vốn thực hiện đạt 13,03 tỉ USD – cao nhất trong 5 năm qua. Chỉ trong vòng nửa đầu năm, lượng vốn đăng ký đã gần bằng tổng vốn FDI của cả năm trước đó là 38,42 tỉ USD, đánh dấu mức tăng trưởng vốn đăng ký cao nhất trong nhiều thập niên. Đáng chú ý, cơ cấu dòng vốn kỷ lục này tập trung mạnh mẽ vào các ngành công nghệ cao như điện tử, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và trung tâm dữ liệu.

Chuyên gia kinh tế Trần Anh Tùng (Trưởng ngành Quản trị kinh doanh, khoa Quản trị kinh doanh, Trường ĐH Kinh tế – Tài chính TP.HCM) đánh giá: Việc nhiều tổ chức quốc tế đánh giá VN là “quán quân” hưởng lợi từ làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng không phải là hiện tượng ngắn hạn mà là kết quả của gần 20 năm tích lũy năng lực hội nhập và cải cách thể chế.

Đầu tiên là vị trí địa kinh tế: VN nằm sát miền nam Trung Quốc – trung tâm sản xuất lớn nhất thế giới – nên doanh nghiệp có thể triển khai chiến lược “Trung Quốc + 1” với chi phí logistics thấp hơn đáng kể so với Indonesia hay Philippines. Thứ hai là độ mở thương mại: VN đã tham gia 17 FTA, trong đó có những FTA thế hệ mới như CPTPP, EVFTA và RCEP. Mạng lưới này giúp hàng hóa tiếp cận các thị trường chiếm phần lớn GDP toàn cầu với mức thuế ưu đãi, một nhà máy đặt tại VN có thể tiếp cận nhiều thị trường lớn với ưu đãi thuế quan.

Ngoài ra, hoạt động ngoại giao kinh tế và mời gọi đầu tư ở cấp Chính phủ ngày càng chuyển sang tiếp cận trực tiếp các tập đoàn chiến lược, đồng thời các địa phương chủ động chuẩn bị đất công nghiệp, hạ tầng và cơ chế xử lý thủ tục. Đây là lợi thế mà Thái Lan, Indonesia hay Philippines không có đầy đủ cùng lúc, khiến VN trở thành điểm trung chuyển sản xuất hấp dẫn hơn.

Chuyên gia kinh tế, TS Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh, cùng quan điểm địa kinh tế là lợi thế đầu tiên giúp VN trở thành điểm đến nổi bật trong chiến lược “Trung Quốc + 1” của các tập đoàn đa quốc gia. Vị trí địa lý nằm kề Trung Quốc giúp doanh nghiệp vừa tận dụng được hệ sinh thái sản xuất và nguồn cung nguyên vật liệu của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, vừa đa dạng hóa địa điểm sản xuất để giảm thiểu rủi ro. Nhờ đó, VN ngày càng trở thành mắt xích quan trọng trong quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt trong các lĩnh vực điện tử, công nghệ cao và công nghiệp chế biến, chế tạo.

Tuy nhiên, theo TS Võ Trí Thành, sức hấp dẫn của VN hiện nay không còn chủ yếu đến từ lao động giá rẻ hay ưu đãi thuế, mà được xây dựng trên nền tảng ổn định chính trị, kinh tế vĩ mô, hội nhập quốc tế sâu rộng và những nỗ lực cải cách thể chế. Một trong những lợi thế cạnh tranh lớn nhất của VN là mạng lưới 17 FTA, trong đó có nhiều FTA thế hệ mới, giúp VN trở thành một trong số ít nền kinh tế có khả năng kết nối với hầu hết các trung tâm kinh tế lớn trên thế giới, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận nhiều thị trường với mức thuế ưu đãi và các quy tắc thương mại minh bạch.

“Giá trị lớn nhất của các FTA thế hệ mới không nằm ở ưu đãi thuế quan mà ở việc thúc đẩy cải cách thể chế trong nước. Những cam kết về minh bạch hóa chính sách, bảo vệ nhà đầu tư, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn lao động, môi trường và quản trị hiện đại đã tạo động lực để VN tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và xây dựng môi trường đầu tư theo chuẩn mực quốc tế. Đây mới là lợi thế cạnh tranh ngày càng quan trọng trong cuộc đua thu hút FDI chất lượng cao, bởi các nhà đầu tư hiện không chỉ tìm kiếm chi phí thấp mà ưu tiên những quốc gia có thể chế ổn định, chính sách nhất quán và khả năng dự báo cao”, ông Thành nhấn mạnh.

Từ góc nhìn đó, TS Võ Trí Thành đánh giá, trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc dưới tác động của cạnh tranh địa chính trị, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số, VN đang đứng trước cơ hội lớn để đón dòng vốn FDI thế hệ mới. Những đánh giá tích cực của các tổ chức quốc tế về triển vọng tăng trưởng cùng dòng vốn FDI liên tục lập kỷ lục trong những năm gần đây cho thấy niềm tin của nhà đầu tư vào môi trường kinh doanh VN là rất lớn.

  Các đối tác Việt Nam, Singapore, Nhật Bản lập liên doanh phát triển bất động sản

Nhìn tổng quan bảng xếp hạng top 5 Đông Nam Á, chuyên gia kinh tế Trần Anh Tùng nhận xét: So với 4 đối thủ chính trong ASEAN, mỗi nước đều có lợi thế riêng nhưng cũng có giới hạn. Đơn cử, Indonesia sở hữu thị trường nội địa rất lớn và nguồn khoáng sản chiến lược, song chi phí logistics giữa các đảo còn cao. Malaysia thì mạnh về bán dẫn nhưng quy mô lao động hạn chế. Thái Lan có nền công nghiệp ô tô phát triển nhưng tốc độ cải cách chậm hơn. Trong khi đó, Philippines có nguồn nhân lực nói tiếng Anh tốt nhưng hạ tầng và sản xuất chế tạo chưa theo kịp. VN là quốc gia cân bằng được cả vị trí địa lý, hội nhập thương mại, ổn định chính trị và lực lượng lao động, vì vậy nổi lên như điểm đến toàn diện nhất.

Tuy vậy, ông Tùng lưu ý VN cần chuyển từ cạnh tranh bằng chi phí sang cạnh tranh bằng năng suất. Trọng tâm không còn là thu hút nhiều vốn hơn mà là nâng tỷ lệ nội địa hóa, phát triển doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, đào tạo nhân lực bán dẫn và AI, đồng thời xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu – phát triển (R&D) để giữ lại giá trị gia tăng cao. Khi đó, VN không chỉ là nơi đặt nhà máy mà sẽ trở thành trung tâm đổi mới của chuỗi cung ứng toàn cầu.

Cụ thể, cần phát triển ít nhất 3.000 – 5.000 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đủ tiêu chuẩn tham gia chuỗi cung ứng của Samsung, Apple, NVIDIA, Intel hay Amkor; đồng thời đào tạo khoảng 300.000 – 500.000 kỹ sư và chuyên gia trong các lĩnh vực AI, bán dẫn, tự động hóa và dữ liệu trong 10 năm tới. Quan trọng hơn, cần nâng chi tiêu cho R&D từ khoảng 0,5% GDP hiện nay lên tối thiểu 2% GDP, tương đương nhóm các nền kinh tế công nghiệp mới ở châu Á.

“Khi tỷ lệ nội địa hóa cao hơn, năng lực công nghệ mạnh hơn và doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào khâu thiết kế, nghiên cứu và phát triển, VN sẽ không còn chỉ là nơi đặt nhà máy để lắp ráp, mà sẽ trở thành trung tâm tạo ra công nghệ, sáng tạo sản phẩm và dẫn dắt chuỗi cung ứng khu vực”, ông Trần Anh Tùng nhấn mạnh.

TS Võ Trí Thành cũng cho rằng lợi thế chỉ có thể được chuyển hóa thành động lực phát triển nếu VN tiếp tục cải cách mạnh mẽ để đáp ứng yêu cầu của làn sóng FDI thế hệ mới. Các tập đoàn công nghệ hiện không còn chỉ cân nhắc các ưu đãi thuế mà đánh giá toàn bộ hệ sinh thái đầu tư, từ nguồn điện ổn định và xanh, hạ tầng logistics, chất lượng nguồn nhân lực đến tính minh bạch, khả năng dự báo của chính sách và hiệu quả thực thi. Vì vậy, VN cần tiếp tục tháo gỡ các điểm nghẽn về thủ tục hành chính, xử lý các quy định chồng chéo, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý nhà nước, mở rộng các cơ chế thử nghiệm chính sách (regulatory sandbox), đồng thời tăng cường phân cấp đi đôi với cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm.

Bên cạnh đó, cần đầu tư mạnh hơn cho đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là trong các lĩnh vực bán dẫn, AI và công nghệ số, cũng như bảo đảm nguồn cung năng lượng ổn định, xanh thông qua triển khai hiệu quả Quy hoạch điện 8. Quan trọng hơn cả, VN phải chuyển từ tư duy thu hút FDI bằng mọi giá sang lựa chọn chiến lược các dự án có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn và có khả năng lan tỏa tới khu vực doanh nghiệp trong nước. Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị cũng đã thể hiện quyết tâm nâng cấp chiến lược thu hút FDI của VN, từ chú trọng số lượng sang chất lượng, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

“FDI không phải là mục tiêu cuối cùng mà là công cụ để nâng cấp nền kinh tế thông qua chuyển giao công nghệ, phát triển công nghiệp hỗ trợ và hình thành các cụm liên kết sản xuất. VN cần chuyển từ tư duy đếm số USD thu hút được sang định hướng chất lượng dòng vốn. Chính chất lượng của FDI mới quyết định năng lực cạnh tranh, khả năng tự chủ chiến lược và tăng trưởng bền vững của nền kinh tế trong giai đoạn tới”, TS Võ Trí Thành nhấn mạnh.

Tin Gốc: Thanh Niên