“Hiện nay chưa có phương pháp điều trị khỏi hoàn toàn nên quản lý bệnh vảy nến là hết sức cần thiết trong chiến lược điều trị”, TS.BS Bùi Long, Phó giám đốc Bệnh viện Hữu Nghị, nói tại lễ khai trương Phòng khám chuyên đề vảy nến của bệnh viện, ngày 25/6.
Bộ Y tế ghi nhận khoảng 2 triệu người Việt đang sống chung với bệnh vảy nến. Bệnh không gây chết người nhưng ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lý và chất lượng cuộc sống bệnh nhân.
Bệnh biểu hiện bằng các mảng da đỏ, bong vảy trắng, xuất hiện rải rác hoặc lan rộng toàn thân. Ba vấn đề chính trong tiến triển của vảy nến là tái phát, tăng tỷ lệ các bệnh đồng mắc và thành viêm khớp vảy nến.
Vảy nến ảnh hưởng nặng làn da, gây kỳ thị, trong khi thực tế bệnh không lây. Ở một số bệnh nhân nặng, việc đầu tiên khi thức dậy là dọn vảy ở ga giường, khiến họ sống nặng nề như “ung thư giai đoạn cuối”.
Ngoài ra, bệnh lý tim mạch và hội chứng chuyển hóa là nhóm bệnh đồng mắc phổ biến, nguy hiểm nhất ở bệnh nhân vảy nến. Tình trạng viêm mạn tính trong vảy nến có thể ảnh hưởng đến các mạch máu và tim, làm tăng nguy cơ tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, đái tháo đường type 2, béo phì. Sự kết hợp của các yếu tố trên được gọi là hội chứng chuyển hóa, làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột quỵ.
“Nếu không kiểm soát tốt các bệnh đi kèm, tình trạng vảy nến sẽ nặng thêm, nguy cơ biến chứng cao hơn, hiệu quả điều trị giảm và tâm lý người bệnh bị ảnh hưởng”, TS Long nói.
PGS.TS Lê Hữu Doanh, Giám đốc Bệnh viện Da liễu Trung ương, cho hay vảy nến chưa thể chữa khỏi hoàn toàn nhưng nếu điều trị sớm, đúng cách, bệnh nhân vẫn có cuộc sống sinh hoạt gần như người bình thường.
Hiện, y học có 4 nhóm phương pháp điều trị, gồm thuốc thoa, chiếu ánh sáng toàn thân, thuốc uống, thuốc sinh học. Trong đó, thuốc sinh học là phương pháp điều trị mới nhất hiện nay, nhắm trúng đích với độ an toàn và hiệu quả cao. Hiện nay, nhiều loại thuốc sinh học chi phí từ 150 đến 250 triệu đồng/năm điều trị, đã được BHYT chi trả một phần.
Phòng khám chuyên đề bệnh vảy nến và các bệnh da tự miễn của Bệnh viện Da liễu Trung ương được thành lập năm 2014, quản lý gần 6.000 bệnh nhân vảy nến, trong đó khoảng 1.000 bệnh nhân đang điều trị bằng thuốc sinh học. Để chuẩn hóa mô hình điều trị vảy nến trên toàn quốc, hai năm qua bệnh viện đã hỗ trợ cơ sở y tế thành lập các phòng khám chuyên đề.
Bệnh viện Hữu Nghị hiện là đơn vị thứ 30 trong hệ thống phòng khám chuyên đề vảy nến trên cả nước và đơn vị thứ 13 thuộc khối bệnh viện đa khoa hình thành phòng khám chuyên đề vảy nến. Các cơ sở y tế có phòng khám chuyên đề quản lý bệnh vảy nến giúp bệnh nhân kiểm soát, giảm bớt ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý, đồng thời ngăn ngừa và hạn chế tối đa các biến chứng.
Số liệu trên trích từ nghiên cứu thực trạng dinh dưỡng do Viện Dinh dưỡng Quốc gia phối hợp cùng Viện Sức khỏe Nutrilite và Amway Việt Nam công bố tại hội thảo ngày 19/6 vừa qua.
Khảo sát thực hiện trong năm 2025 trên quy mô gần 1.500 người tại Hà Nội, TP HCM, Cần Thơ, Thái Nguyên và Quảng Nam, đại diện cho cả vùng thành thị lẫn nông thôn. Kết quả cho thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì ở nam giới cao hơn nữ giới khi tính theo chuẩn chỉ số khối cơ thể (BMI) của Tổ chức Y tế Thế giới dành cho người châu Á.
PGS.TS Trần Thanh Dương, Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia, nhận định thách thức lớn nhất hiện nay đã chuyển từ "ăn thiếu" sang "ăn chưa đúng" và "ăn chưa cân đối".
Bên cạnh tình trạng thừa cân, thói quen ăn uống của người Việt vẫn thiếu hụt nghiêm trọng các vi chất thiết yếu. Khẩu phần ăn hằng ngày mới chỉ đáp ứng 68,7% nhu cầu canxi và 50,9% nhu cầu folate theo khuyến nghị. Ngoài ra, hơn 60% người tham gia khảo sát chưa ăn đủ lượng rau xanh và trái cây theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới.
Chất lượng bữa ăn đầu tiên trong ngày cũng ở mức đáng báo động khi năng lượng từ bữa sáng chỉ đạt 18,2% nhu cầu khuyến nghị, thấp hơn mức cần thiết để duy trì hoạt động thể chất lẫn tinh thần. Đáng lo ngại, khoảng 20% người tiêu dùng sử dụng đường, bánh kẹo hoặc đồ ngọt cho bữa sáng.
Việc bỏ bữa sáng kéo dài hoặc ăn uống không lành mạnh gây rối loạn chuyển hóa năng lượng, kích thích cảm giác thèm ăn vào cuối ngày, dẫn đến xu hướng ăn bù và làm tăng nguy cơ béo phì cùng các bệnh mạn tính không lây.
Theo PGS Dương, nhóm tuổi 20-45 là lực lượng lao động chủ chốt của xã hội, nhưng áp lực công việc và nhịp sống hối hả đang đẩy họ vào thói quen ăn uống thất thường, lạm dụng thực phẩm chế biến sẵn.
Thực trạng này tạo ra gánh nặng dinh dưỡng kép cho Việt Nam, khi tình trạng thiếu vi chất vẫn tồn tại song hành cùng sự gia tăng nhanh chóng của các bệnh như tăng huyết áp, đái tháo đường và tim mạch.
Trong bối cảnh tốc độ già hóa dân số diễn ra nhanh chóng, việc chủ động chăm sóc sức khỏe thông qua chế độ ăn uống hằng ngày đóng vai trò quyết định đến năng suất lao động và chất lượng cuộc sống tương lai.
Ngày 2/6, Bảo hiểm xã hội TPHCM thông tin việc tham gia góp ý sửa đổi, bổ sung Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) số 41/2024/QH15 và một số quy định khác.
Theo đó, BHXH TPHCM đề xuất 6 nội dung cụ thể, xuất phát từ thực tiễn quản lý tại địa bàn có quy mô dân số, lao động, doanh nghiệp, hộ kinh doanh lớn, đồng thời là nơi phát triển nhanh các loại hình lao động mới, lao động linh hoạt, lao động trong nền kinh tế số.
Các nội dung góp ý đều hướng đến mục tiêu hoàn thiện chính sách theo hướng bao phủ rộng hơn, quản lý chặt chẽ hơn và bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người dân, người lao động.
Thứ nhất, đề xuất bổ sung tài xế công nghệ, người bán hàng online vào diện tham gia BHXH bắt buộc.
Theo BHXH TPHCM, đây là những nhóm lao động có việc làm, có thu nhập ổn định, thường xuyên, phát triển nhanh trong nền kinh tế số nhưng hiện chưa được bao phủ đầy đủ bởi chính sách BHXH bắt buộc. Việc bổ sung nhóm đối tượng này nhằm bảo đảm tốt hơn quyền lợi an sinh cho người lao động trong các mô hình việc làm mới.
BHXH TPHCM đề xuất phương thức đóng bảo hiểm hàng tháng thông qua tổ chức kinh doanh bằng ứng dụng công nghệ, nhà quản lý sàn giao dịch thương mại điện tử, nhà quản lý nền tảng số có chức năng thanh toán và các tổ chức có hoạt động kinh tế số khác theo quy định.
Thứ hai, kiến nghị đưa người có hợp đồng lao động dưới 1 tháng vào diện tham gia BHXH bắt buộc. Thứ ba, siết trách nhiệm BHXH đối với doanh nghiệp sử dụng lao động tại công trình xây dựng, công ty may mặc, gia công, vận tải.
Thứ tư, bổ sung trách nhiệm cung cấp dữ liệu của người sử dụng lao động. Thứ năm, tổ chức thu BHXH bắt buộc đối với chủ hộ kinh doanh qua tổ chức dịch vụ thu (đơn vị được cơ quan BHXH ủy quyền).
Thứ sáu, BHXH TPHCM kiến nghị BHXH Việt Nam đề xuất sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 261/2025/QH15 và Luật Bảo hiểm y tế (BHYT) theo hướng người từ đủ 75 tuổi trở lên có thẻ BHYT được hưởng 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi được hưởng.
Theo BHXH TPHCM, Nghị quyết số 261/2025/QH15 quy định người tham gia BHYT thuộc hộ gia đình cận nghèo, người cao tuổi từ đủ 75 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp hưu trí xã hội được áp dụng mức hưởng 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi được hưởng.
Tuy nhiên, thực tế phát sinh trường hợp người từ đủ 75 tuổi trở lên đang hưởng lương hưu, có thẻ BHYT nhưng chưa được áp dụng mức hưởng 100%, dẫn đến nhiều phản ánh từ người dân.
"Việc bổ sung người từ đủ 75 tuổi trở lên có thẻ BHYT vào nhóm được hưởng 100% chi phí khám, chữa bệnh BHYT trong phạm vi được hưởng sẽ góp phần bảo đảm quyền lợi chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi, phù hợp với yêu cầu thích ứng với già hóa dân số và bảo đảm tính công bằng trong thụ hưởng chính sách", BHXH TPHCM nhận định.
Nhóm nghiên cứu tại Đại học Columbia (Mỹ) đã chỉnh sửa thành công DNA của phôi người với độ chính xác cao bằng một kỹ thuật mới gọi là "base editing" (chỉnh sửa base), theo báo New York Times ngày 5-6.
Thành tựu này được xem là cột mốc quan trọng trong nỗ lực ngăn ngừa các bệnh di truyền ngay từ giai đoạn đầu của sự sống, nhưng đồng thời cũng làm dấy lên nhiều tranh luận về đạo đức.
Trong nghiên cứu mới, nhóm của nhà di truyền học Dieter Egli đã sử dụng công nghệ base editing để thay đổi chính xác từng "chữ cái" trong mã gene.
Khác với công nghệ CRISPR truyền thống vốn hoạt động bằng cách cắt DNA rồi để tế bào tự sửa chữa, base editing chỉ tạo ra một vết cắt rất nhỏ và hướng dẫn tế bào thay thế một ký tự di truyền cụ thể. Nhờ đó, nguy cơ gây tổn thương DNA được giảm đáng kể.
Các nhà nghiên cứu tập trung chỉnh sửa hai gene. Gene thứ nhất là PCSK9, liên quan đến nồng độ cholesterol LDL trong máu và nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Gene thứ hai là HBG, có vai trò trong quá trình sản xuất hemoglobin ở thai nhi và có liên quan đến một số bệnh về máu.
Kết quả cho thấy các nhà khoa học có thể chỉnh sửa thành công cả hai gene mà không ghi nhận những tổn thương nhiễm sắc thể nghiêm trọng từng xuất hiện trong các thử nghiệm sử dụng CRISPR trước đây.
Trong một số trường hợp, họ thậm chí có thể chỉnh sửa đồng thời cả hai gene trong cùng một phôi.
Vào năm 2020, nhóm nghiên cứu của ông Egli đã thử dùng CRISPR để sửa một đột biến gene EYS gây mù bẩm sinh. Kết quả cho thấy khoảng một nửa số phôi gặp vấn đề nghiêm trọng, bao gồm mất những đoạn DNA lớn hoặc thậm chí mất cả nhiễm sắc thể chứa gene mục tiêu.
Chính những rủi ro này đã khiến nhiều nhà khoa học cho rằng việc chỉnh sửa gene ở phôi người vẫn còn quá nguy hiểm.
Nghiên cứu mới cũng cho thấy công nghệ base editing chưa hoàn hảo.
Trong một số phôi, các phân tử chỉnh sửa không tìm thấy DNA mục tiêu của chúng. Điều này tạo ra hiện tượng gọi là "khảm gene", nghĩa là trong cùng một phôi tồn tại các tế bào mang phiên bản gene khác nhau.
Nếu những phôi như vậy phát triển thành thai nhi, các khác biệt di truyền giữa các tế bào có thể dẫn đến những hậu quả sức khỏe khó lường.
Các chuyên gia độc lập đánh giá kết quả nghiên cứu là đầy hứa hẹn nhưng cho rằng cần thêm nhiều dữ liệu để xác định mức độ an toàn.
Một số nhà đạo đức sinh học cảnh báo rằng những tác động bất lợi có thể không xuất hiện ngay trong giai đoạn phôi thai mà chỉ bộc lộ sau khi đứa trẻ được sinh ra.
Ông Egli nhấn mạnh rằng công nghệ này chưa sẵn sàng để áp dụng trong các phòng khám và vẫn còn nhiều câu hỏi cần giải đáp. Tuy nhiên, ông cho rằng xã hội nên bắt đầu thảo luận về những lợi ích và rủi ro của việc can thiệp vào bộ gene người ngay từ giai đoạn phôi.
Nghiên cứu hiện mới được công bố dưới dạng bản thảo khoa học và đang chờ đánh giá chính thức trước khi xuất bản trên tạp chí chuyên ngành.
Dù còn nhiều tranh cãi, thành tựu này được xem là một bước tiến quan trọng trong hành trình phát triển các liệu pháp gene thế hệ mới, đồng thời đặt ra những câu hỏi lớn về tương lai của y học và giới hạn đạo đức trong việc can thiệp vào sự sống con người.