Đọc bài viết “Lời ca khúc ‘Người Việt mình thương nhau’ gây tranh luận” và các bình luận của độc giả bên dưới, tôi xin có vài ý kiến như sau:
Tác giả rõ ràng đã hiểu sai về bản chất của một ẩn dụ. Đa số độc giả đã phản biện rất sắc bén và phân tích rất hợp tình hợp lý. Tín hiệu đáng mừng là tác giả cũng đã cầu thị, nhận ra sai lầm và sửa chữa.
Nếu không, một nhận thức, một thông điệp sai lệch được lan truyền mà không ai phản biện sẽ rất nguy hiểm cho nhận thức chung của cộng đồng.
Rộng hơn chút, tôi nghĩ tiếp đến việc tại sao nhiều bài hát lại có sức sống bền bỉ trong lòng người nghe. Ngoài giai điệu hay, phần lớn là do ca từ có thể chạm đến và thấm đẫm vào những tầng tư duy và cảm xúc sâu xa, chạm vào bản ngã của người nghe.
Khi ca từ diễn tả đúng tâm trạng mà người nghe không thể tự gọi tên, bài hát đó trở thành một “người tri kỷ”. Những câu hát giàu tính trải nghiệm thường dễ dàng đi sâu vào lòng người.
Muốn vậy, người nhạc sĩ không chỉ phải giỏi về giai điệu, ngôn từ, mà còn phải am tường về văn hóa, triết học, đồng thời có đủ trải nghiệm về cảm xúc để truyền tải đến người nghe, đồng thời người nghe cũng phải có những hiểu biết nhất định tương ứng để thấu cảm.
Làm thế nào để hình thành nên những tư duy ngôn ngữ, sự thấu cảm đó ở mọi người, đặc biệt là những người trẻ còn đang đi học?
Tôi nghĩ đến vai trò của môn Ngữ Văn, và phần nào đó là những nội dung triết học trong trường học. Học Văn không chỉ để phân tích một tác phẩm, hay thuộc lòng một đoạn thơ mà còn là cách để rèn tư duy ngôn ngữ, bồi đắp EQ, và nhận được các bài học về đạo đức và triết lý nhân sinh.
Tác giả bài hát (có thể) bất ngờ “dở Văn” để viết nên câu hát tối nghĩa, nhưng những độc giả phản biện đã rất thông hiểu mới có thể đưa ra ý kiến phản biện xác đáng.
Còn bạn, bạn nghĩ môn Văn có quan trọng trong cuộc sống không? Và việc dạy, học văn ở trường học hiện nay đã phát huy đúng vai trò chưa? Hãy chia sẻ ý kiến cùng tôi.
Theo tôi, vấn đề chia tiền khi đi chơi với nhóm bạn, đồng nghiệp phức tạp hơn nhiều người nghĩ. Đây là một ví dụ đang gây tranh luận mạnh mẽ trên mạng xã hội mấy hôm nay: Một nhóm bạn 4 người đi ăn và chơi chung, tổng chi phí hơn 3 triệu đồng và chia đều cho 4 người.
Vấn đề gây tranh cãi là một người trong nhóm dẫn theo người yêu, nhưng khi tính tiền vẫn chia đều cho 4.
Nếu nhìn ở góc độ con số, mỗi người thêm vài trăm nghìn không phải là vấn đề quá lớn. Nhưng trong các mối quan hệ, đặc biệt là bạn bè, cảm giác "phải tính tiền thay phần của người khác" lại là một vấn đề để lại nhiều lấn cấn.
Người ta có thể thoải mái chi tiền cho một bữa ăn, một cuộc vui mà họ tham gia. Nhưng ít ai cảm thấy dễ chịu khi phải trả thay cho một người mà họ không chủ động mời. Ở đây, vấn đề không nằm ở việc có nên chia đều hay không, mà ai là người có trách nhiệm cho phần phát sinh đó?
Khi bạn chủ động dẫn thêm một người vào một cuộc hẹn vốn dĩ chỉ có 4 người - hoặc số lượng người đã chốt trước, bạn đã làm thay đổi nhiều "biến" của một bài toán.
Tôi vẫn thường nhất quán với quan điểm: Ai mời thêm người, người đó chịu phần phát sinh.
Bạn bè dù hiếm ai bắt buộc bạn phải khao toàn bộ chi phí cho người yêu nhưng ít nhất, bạn nên là người chủ động đứng ra thanh toán luôn, thay vì mặc định chia đều.
Bạn có thể vô tư, nhưng đừng để sự vô tư đó khiến người khác phải khó xử. Trong những tình huống như vậy, sự im lặng của người còn lại không đồng nghĩa với việc họ đồng ý, mà có thể chỉ là họ không muốn làm mất lòng và để lại sự khó chịu âm ỉ. Nhưng những chuyện nhỏ như vậy, tích tụ nhiều lần, rất dễ làm rạn nứt mối quan hệ.
Tôi tự đúc kết lại những kinh nghiệm "chia bill" như sau:
1. Mời thêm người (bạn bè, người yêu...) thì phải thanh toán luôn phần của người được mời.
2. Không sợ chia ít nhiều mà chỉ sợ không công bằng.
3. Nếu đi du lịch chung, hãy chịu khó note lại chi phí và chia cho công bằng (ai tham gia những gì thì thanh toán đúng như vậy, không cào bằng.
4. Nếu có phát sinh, phải thỏa thuận trước, đừng để đến lúc tính mới nói.
Vợ chồng tôi cũng từng trải qua những tháng ngày đắn đo giữa hai lựa chọn: cố gắng mua một căn hộ nhỏ ở trung tâm TP HCM hay chấp nhận đi xa hơn để có một không gian sống rộng rãi, phù hợp với khả năng tài chính. Thời điểm đó, ngân sách của gia đình tôi chỉ khoảng 2 tỷ đồng. Với số tiền này, việc sở hữu một căn nhà ở khu vực trung tâm gần như nằm ngoài khả năng. Ngay cả những căn hộ ở vị trí thuận tiện cũng khiến chúng tôi phải gánh áp lực vay nợ lớn trong nhiều năm.
Thú thật, ai cũng thích sống gần nơi làm việc. Tôi làm việc ở Quận 2, nếu ở nội thành thì việc đi lại sẽ nhẹ nhàng hơn rất nhiều. Nhưng sau nhiều lần tính toán, vợ chồng tôi nhận ra rằng nếu cứ giữ suy nghĩ "nhất định phải mua được nhà ở trung tâm" thì có thể sẽ bỏ lỡ những lựa chọn phù hợp hơn với điều kiện thực tế của mình. Cuối cùng, chúng tôi quyết định mua nhà ở Bình Dương.
Từ nhà đến chỗ làm, mỗi ngày tôi mất hơn hai giờ cho cả hành trình đi và về. Đó rõ ràng là một sự đánh đổi. Những buổi sáng phải dậy sớm hơn, những chiều tan sở về muộn hơn đôi chút, nói là không vất vả thì không đúng. Nhưng đổi lại, gia đình tôi có được một không gian sống thoải mái mà nếu ở trung tâm với cùng số tiền đó, có lẽ rất khó sở hữu.
Đường sá trong khu dân cư khá rộng, mật độ xe cộ không quá dày đặc. Những ngày hè như hiện nay, các con tôi có thể đạp xe, chạy nhảy ngoài trời cùng bạn bè trong khu. Buổi tối, trẻ con vẫn tụ tập vui chơi trước nhà mà cha mẹ không quá lo lắng về xe cộ hay khói bụi. Nhiều năm thuê nhà ở trung tâm thành phố đông đúc, tôi mới thấy những điều tưởng chừng đơn giản ấy lại có giá trị đến nhường nào.
>> Giá trị 10 năm chuyển nhà từ Gò Vấp ra Quận 2
Thực tế, đời sống ở Bình Dương hiện nay cũng không còn như hình dung của nhiều người trước đây. Hạ tầng giao thông ngày càng hoàn thiện, đường sá thông thoáng. Các dịch vụ thiết yếu từ trường học, bệnh viện đến siêu thị, trung tâm thương mại đều có đầy đủ. Gia đình tôi không cảm thấy thiếu thốn hay bất tiện trong sinh hoạt hằng ngày.
Quan sát xung quanh, tôi cũng thấy không ít gia đình trẻ có xu hướng dịch chuyển từ khu vực trung tâm ra các đô thị vệ tinh hoặc vùng ven. Không phải vì họ không thích trung tâm, mà bởi họ bắt đầu ưu tiên chất lượng môi trường sống hơn. Nội đô hiện nay ngày càng đông đúc, ngột ngạt, kẹt xe thường xuyên, giá nhà đất liên tục tăng cao. Trong khi đó, nhiều khu đô thị mới ở vùng ven được quy hoạch khá bài bản, không gian xanh nhiều hơn, mật độ dân cư hợp lý hơn. Với những người xác định ở lâu dài để xây dựng cuộc sống gia đình, đây là những yếu tố đáng cân nhắc.
Tất nhiên, vẫn có người chấp nhận trả giá cao để đổi lấy sự thuận tiện trong việc đi làm. Nhưng ngày càng có nhiều người như tôi sẵn sàng đi xa hơn một chút để có không gian sống tốt hơn và giảm áp lực tài chính. Với riêng tôi, lựa chọn vùng ven là quyết định phù hợp với hoàn cảnh của gia đình mình. Thay vì dồn toàn bộ nguồn lực vào một căn nhà ở trung tâm và mang gánh nặng nợ nần kéo dài, tôi chọn một phương án vừa sức hơn để vẫn có thể dành tiền cho con cái, cho những nhu cầu khác của cuộc sống.
Tôi nghĩ những khu vực như Bình Dương, Hóc Môn hay Cần Giờ vẫn còn nhiều dư địa phát triển hạ tầng trong tương lai. Đây có thể là lựa chọn phù hợp cho những người mua để ở lâu dài, thay vì đặt nặng câu chuyện đầu tư ngắn hạn hay phải sở hữu nhà ở khu vực trung tâm bằng mọi giá.
Thú thực, nói về các bữa tiệc cưới rong vài năm trở lại đây, tôi ngày càng thấy mình lạc lõng. Việc đi ăn cưới với nhiều người dường như trở thành một "thủ tục" hơn là một dịp để gặp gỡ, chia sẻ niềm vui với cô dâu, chú rể.
Có lần, tôi đi dự đám cưới của một người bạn học cũ. Đến nơi, tôi được xếp vào một bàn toàn những người không quen biết. Điều đó cũng không quá lạ, vì chuyện ghép bàn vốn đã phổ biến. Nhưng điều khiến tôi bối rối là cách mọi người ứng xử trong bữa tiệc. Chưa kịp hỏi nhau vài câu xã giao, chưa kịp nhớ tên nhau, mọi người đã bắt đầu ăn vội. Các món ăn vừa dọn ra, ai nấy gắp nhanh, ăn nhanh, chẳng nói chuyện gì mấy.
Chỉ khoảng 30 phút sau khi ngồi vào bàn, chỉ chờ cô dấu chú rể tới bàn nâng ly xong, vài người đã bắt đầu đứng dậy. Rồi từng người một xin phép ra về khi có người còn chưa ăn xong. Tôi cũng đang cầm đũa cũng khựng lại khi thấy bàn đã vơi đi quá nửa. Không khí bỗng trở nên trống trải.
Có những lần khác, tôi thậm chí còn chưa kịp bắt chuyện thì họ đã lần lượt ra về. Cuối cùng, cả bàn chỉ còn lại mình tôi với vài chiếc ghế trống. Trong khoảnh khắc ấy, tôi phân vân: nên tiếp tục ngồi lại ăn cho xong, hay đứng dậy ra về như mọi người? Nhưng ngồi một mình giữa một bàn tiệc đông người trước đó khiến tôi thấy ngại. Cuối cùng, tôi chọn cách nhanh chóng dừng bữa, rồi lặng lẽ đứng dậy.
>> Chê cỗ cưới chán dù bỏ 500 K tiền mừng
Tôi hiểu rằng cuộc sống bây giờ bận rộn hơn, ai cũng có nhiều mối quan hệ, nhiều đám cưới phải đi. Có thể với nhiều người, việc đến dự, gửi phong bì, nâng ly chúc mừng chỉ là thủ tục cho đủ. Nhưng đôi khi, tôi tự hỏi: nếu tất cả chỉ dừng lại ở mức "hoàn thành nghĩa vụ" như vậy, thì ý nghĩa của một buổi tiệc cưới còn lại là gì?
Ngày trước, tôi vẫn nhớ những đám cưới nơi mọi người ngồi lại lâu hơn, trò chuyện nhiều hơn, có khi từ xa lạ thành quen biết. Không khí ấm áp ấy khiến việc đi ăn cưới không chỉ là vì cô dâu chú rể, mà còn là dịp để kết nối con người với nhau.
Có lẽ tôi hơi "cũ kỹ" khi vẫn mong chờ điều đó. Nhưng mỗi lần rơi vào cảnh ngồi một mình giữa bàn tiệc chóng tàn, tôi lại thấy tiếc cho một nét văn hóa đang dần phai nhạt. Và trong những bữa tiệc đông vui ấy, tôi lại cảm thấy mình cô đơn hơn bao giờ hết.