Ngày 3.5, Sở Du lịch Ninh Bình thông tin về kết quả của ngành du lịch từ dịp lễ Giỗ tổ Hùng Vương đến lễ 30.4 và 1.5.
Theo đó, từ ngày 25.4 – 3.5, toàn tỉnh Ninh Bình đón gần 2,8 triệu lượt khách, trong đó có gần 275.000 lượt khách quốc tế. Tổng doanh thu đem về cho tỉnh Ninh Bình từ hoạt động du lịch là hơn 4.200 tỉ đồng.
Một số khu, điểm du lịch thu hút lượng khách lớn là khu du lịch sinh thái Tràng An đón 108.500 lượt khách, khu văn hóa tâm linh Bái Đính – Thung Ui đón 54.103 lượt khách, khu du lịch Tam Cốc – Bích Động đón 42.347 lượt khách, khu công viên nước Sun Uban City đón 52.182 lượt khách.
Đặc biệt, du lịch biển thuộc các xã Hải Hậu, Hải Thịnh, Hải Tiến thu hút được tổng 329.377 lượt khách…
Lũy kế từ đầu năm 2026 đến ngày 3.5, toàn tỉnh Ninh Bình đã đón được hơn 14,3 triệu lượt khách, tổng doanh thu hơn 15,7 tỉ đồng.
Theo Sở Du lịch Ninh Bình, ngành du lịch tỉnh này thu hút lượng khách lớn ngoài nhờ các sản phẩm du lịch đặc trưng và mới, còn nhờ vào công tác quản lý của các cơ quan chức năng và việc thực hiện đúng các quy định trong kinh doanh của các điểm du lịch, cơ sở kinh doanh dịch vụ.
Tin Gốc: Thanh Niên

Nhiếp ảnh gia người Hà Lan Frank van den Berge (76 tuổi) du lịch vòng quanh thế giới từ những năm 1970. Năm 1997, ông đến Việt Nam, thực hiện hành trình từ Bắc vào Nam. Tháng 6, loạt ảnh chụp tại Hội An của ông được chia sẻ trên các nền tảng trực tuyến.
Bức ảnh trên ghi lại Chùa Cầu, nằm ở phía tây nam khu phố cổ Hội An. Công trình này nối phố Trần Phú với phố Nguyễn Thị Minh Khai, bắc qua con lạch thông ra sông Hoài.
Nhiếp ảnh gia người Hà Lan Frank van den Berge (76 tuổi) du lịch vòng quanh thế giới từ những năm 1970. Năm 1997, ông đến Việt Nam, thực hiện hành trình từ Bắc vào Nam. Tháng 6, loạt ảnh chụp tại Hội An của ông được chia sẻ trên các nền tảng trực tuyến.
Bức ảnh trên ghi lại Chùa Cầu, nằm ở phía tây nam khu phố cổ Hội An. Công trình này nối phố Trần Phú với phố Nguyễn Thị Minh Khai, bắc qua con lạch thông ra sông Hoài.
Nhiều người bình luận bộ ảnh đã giúp họ gợi nhớ ký ức tuổi thơ.
Theo chị Trần Thị Dư, 41 tuổi, Hội An, người Quảng Nam cũ trước đây thường đặt quan tài lên kiệu, khiêng quanh khu phố hoặc đoạn đường gắn bó với người quá cố để chào tạm biệt. Sau đó, quan tài mới được chuyển sang xe tang đưa ra nghĩa trang. Di ảnh người mất được đặt trong chiếc kiệu nhỏ (phải).
Nhiều người bình luận bộ ảnh đã giúp họ gợi nhớ ký ức tuổi thơ.
Theo chị Trần Thị Dư, 41 tuổi, Hội An, người Quảng Nam cũ trước đây thường đặt quan tài lên kiệu, khiêng quanh khu phố hoặc đoạn đường gắn bó với người quá cố để chào tạm biệt. Sau đó, quan tài mới được chuyển sang xe tang đưa ra nghĩa trang. Di ảnh người mất được đặt trong chiếc kiệu nhỏ (phải).
Nhiều người bình luận bộ ảnh đã giúp họ gợi nhớ ký ức tuổi thơ.
Theo chị Trần Thị Dư, 41 tuổi, Hội An, người Quảng Nam cũ trước đây thường đặt quan tài lên kiệu, khiêng quanh khu phố hoặc đoạn đường gắn bó với người quá cố để chào tạm biệt. Sau đó, quan tài mới được chuyển sang xe tang đưa ra nghĩa trang. Di ảnh người mất được đặt trong chiếc kiệu nhỏ (phải).
Chị Đỗ Ngọc bất ngờ, xúc động nhận ra bà ngoại Huỳnh Thị Mai trong bức ảnh. Ngọc cho biết bà Mai rất vui khi xem lại hình ảnh cũ và coi đây là tư liệu quý.
Năm 1997, bà Mai sống ven sông, làm nghề bán cá hấp. Bà thường mua cá nục, cá ngừ, tôm, mực trực tiếp từ tàu, ướp muối giữ tươi rồi xếp vào rổ để hấp. Số cá này sau đó được đem bán tại các chợ miền núi.
Chị Đỗ Ngọc bất ngờ, xúc động nhận ra bà ngoại Huỳnh Thị Mai trong bức ảnh. Ngọc cho biết bà Mai rất vui khi xem lại hình ảnh cũ và coi đây là tư liệu quý.
Năm 1997, bà Mai sống ven sông, làm nghề bán cá hấp. Bà thường mua cá nục, cá ngừ, tôm, mực trực tiếp từ tàu, ướp muối giữ tươi rồi xếp vào rổ để hấp. Số cá này sau đó được đem bán tại các chợ miền núi.
Ông Tới, làm nghề chèo ghe, là hàng xóm của chị Dư. Lúc nhỏ, cha mẹ chị Dư hay lên bến sông Bạch Đằng mua cá hấp, sau đó nhờ ông Tới chở về nhà ở Cẩm Nam bằng thuyền.
"Xem những bức ảnh này mới thấy Hội An đã thay đổi rất nhiều, chỉ riêng tình người và lòng mến khách vẫn vậy", chị Dư nói.
Ông Tới, làm nghề chèo ghe, là hàng xóm của chị Dư. Lúc nhỏ, cha mẹ chị Dư hay lên bến sông Bạch Đằng mua cá hấp, sau đó nhờ ông Tới chở về nhà ở Cẩm Nam bằng thuyền.
"Xem những bức ảnh này mới thấy Hội An đã thay đổi rất nhiều, chỉ riêng tình người và lòng mến khách vẫn vậy", chị Dư nói.
Sau gần 30 năm, Frank cho biết không nhớ rõ bối cảnh từng bức ảnh. Ông kể năm 1997, tiếng Anh chưa phổ biến tại Hội An và người dân địa phương chưa quen tiếp đón khách quốc tế.
Đường đến Hội An lúc đó khó đi, nhiều khói bụi từ xe tải. Tới nơi, nam du khách bị một số cơ sở lưu trú từ chối phục vụ vì họ chưa có giấy phép đón khách nước ngoài.
Trong hình là đường Bạch Đằng thuộc khu phố cổ hiện nay.
Sau gần 30 năm, Frank cho biết không nhớ rõ bối cảnh từng bức ảnh. Ông kể năm 1997, tiếng Anh chưa phổ biến tại Hội An và người dân địa phương chưa quen tiếp đón khách quốc tế.
Đường đến Hội An lúc đó khó đi, nhiều khói bụi từ xe tải. Tới nơi, nam du khách bị một số cơ sở lưu trú từ chối phục vụ vì họ chưa có giấy phép đón khách nước ngoài.
Trong hình là đường Bạch Đằng thuộc khu phố cổ hiện nay.
Frank cho biết bất đồng ngôn ngữ khiến ông bị từ chối bán xăng hoặc phải mua đồ với giá cao hơn.
Lý giải điều này, chị Dư cho biết năm 1997, Hội An hiếm khách quốc tế. Người dân địa phương e ngại giao tiếp ngoại ngữ nên thường từ chối giao dịch để tránh phải giải thích.
Frank cho biết bất đồng ngôn ngữ khiến ông bị từ chối bán xăng hoặc phải mua đồ với giá cao hơn.
Lý giải điều này, chị Dư cho biết năm 1997, Hội An hiếm khách quốc tế. Người dân địa phương e ngại giao tiếp ngoại ngữ nên thường từ chối giao dịch để tránh phải giải thích.
Bức ảnh chụp trước Bảo tàng Gốm sứ Mậu dịch Hội An trên đường Trần Phú. Công trình mở cửa năm 1995 với sự hỗ trợ của các chuyên gia Nhật Bản.
Nơi đây trưng bày hàng trăm hiện vật có niên đại từ thế kỷ IX đến XIX, minh chứng cho thời kỳ Hội An là thương cảng giao thương gốm sứ quốc tế.
Bức ảnh chụp trước Bảo tàng Gốm sứ Mậu dịch Hội An trên đường Trần Phú. Công trình mở cửa năm 1995 với sự hỗ trợ của các chuyên gia Nhật Bản.
Nơi đây trưng bày hàng trăm hiện vật có niên đại từ thế kỷ IX đến XIX, minh chứng cho thời kỳ Hội An là thương cảng giao thương gốm sứ quốc tế.
Người bán rong mì Quảng thường dùng muôi cán dài để chần giá.
Người bán rong mì Quảng thường dùng muôi cán dài để chần giá.
Nhờ địa thế giáp sông và biển, nghề chài lưới tại Hội An đã hình thành từ lâu. Ngư dân tập trung chủ yếu ở các khu vực Cẩm An, Thanh Nam và Cẩm Kim.
Nhờ địa thế giáp sông và biển, nghề chài lưới tại Hội An đã hình thành từ lâu. Ngư dân tập trung chủ yếu ở các khu vực Cẩm An, Thanh Nam và Cẩm Kim.
Nhờ địa thế giáp sông và biển, nghề chài lưới tại Hội An đã hình thành từ lâu. Ngư dân tập trung chủ yếu ở các khu vực Cẩm An, Thanh Nam và Cẩm Kim.
Tin Gốc: Vnexpress

Ngày nay, ẩm thực cao cấp được xem là ADN của văn hóa Pháp. Tuy nhiên, trước thế kỷ 18, viễn cảnh ăn uống tại Paris khá ảm đạm. Trong cuốn hướng dẫn du lịch năm 1727, học giả người Đức Joachim Christoph Nemeitz mô tả: "Chỉ giới quý tộc mới được ăn ngon nhờ có đầu bếp riêng, khách du lịch không có lời mời ăn tối thường phải dùng thịt nấu dở, thực đơn lặp lại và nghèo nàn".
Thời kỳ này, các quán trọ hay nhà nghỉ chỉ phục vụ những món cơ bản. Các quán rượu (cabaret) tập trung vào đồ uống, tiệm cà phê chỉ có kem và rượu mùi, khách sạn cung cấp nhu yếu phẩm và các tiệm quay bán thịt chín mang về. Khái niệm về nhà hàng, nơi thực khách có thể chọn món từ thực đơn và thưởng thức tại chỗ, chưa tồn tại.
Sự thay đổi bắt đầu vào năm 1765. Mathurin Roze de Chantoiseau, doanh nhân kiêm nhà từ thiện, mở một cửa hàng nhỏ gần bảo tàng Louvre. Ban đầu, Roze phục vụ các món súp ninh từ xương, thịt gia cầm muối và trứng tươi trên những chiếc bàn đá cẩm thạch nhỏ.
Trước cửa tiệm treo tấm biển: "Hãy đến với tôi, những ai đang đau dạ dày, tôi sẽ giúp bạn hồi phục". Đây là cách chơi chữ dựa trên một câu kinh thánh, đánh vào tâm lý coi trọng tiêu hóa để bảo vệ sức khỏe của giới trí thức bấy giờ. Tên gọi "restaurant" (nhà hàng) thực chất bắt nguồn từ động từ tiếng Pháp "restaurer" (hồi phục).
Roze đã thiết lập những tiêu chuẩn mà ngày nay thực khách coi là hiển nhiên. Bàn ăn riêng biệt thay vì ngồi chung bàn dài. Thực đơn niêm yết giá công khai. Sử dụng khăn trải bàn và đồ sứ sạch sẽ. Mô hình này lập tức thành công. Triết gia Denis Diderot, sau khi dùng bữa tại đây vào năm 1767, đã ca ngợi sự tiện lợi và riêng tư của tiệm.
Dù Roze đặt nền móng, nhưng phải đến năm 1786, khái niệm nhà hàng mới thực sự bùng nổ tại khu phức hợp Palais-Royal. Antoine Beauvilliers, cựu đầu bếp của các bá tước, đã mở La Grande Taverne de Londres - nhà hàng đầu tiên về cả hình thức lẫn tinh thần.
Các hướng dẫn du lịch đầu thập niên 1820 mô tả những nhà hàng mới nổi là nơi để giới trung lưu ăn uống và phô diễn đẳng cấp. Không gian tràn ngập gương lớn, lò sưởi bằng sứ, đèn pha lê và các cột trụ trang trí. Tại đây, những phụ nữ thanh lịch ngồi ở bàn cao để điều hành, viết hóa đơn và chào đón khách.
Beauvilliers đưa trải nghiệm ăn uống xa hoa của giới quý tộc ra không gian công cộng. Nhà hàng của ông có bàn gỗ gụ, tường bọc nệm và đèn chùm lộng lẫy. Thực đơn tại đây dài tới 178 món, bao gồm 10 loại súp, 12 món khai vị, 36 món tráng miệng và nhiều danh mục khác. Tại đây, ăn uống không chỉ là nạp năng lượng mà trở thành một nghi thức xã hội, nơi thực khách được phục vụ bởi các trưởng bộ phận chuyên nghiệp.
Cuộc Cách mạng Pháp năm 1789 vô tình trở thành chất xúc tác cho ngành kinh doanh này. Khi các gia đình quý tộc tháo chạy hoặc bị tịch thu tài sản, hàng nghìn đầu bếp riêng của họ bị mất việc. Những người này tràn ra đường phố Paris, mở các cơ sở kinh doanh độc lập.
Cùng lúc, các đại biểu từ khắp nơi đổ về thủ đô để soạn thảo hiến pháp mới. Họ cần những không gian yên tĩnh, trật tự để vừa dùng bữa vừa tranh luận chính trị. Nhà hàng chính là lựa chọn tối ưu. Nhà văn Louis-Sébastien Mercier từng nhận xét: "Nhà bếp được dựng lên ngay cạnh máy chém".
Từ khoảng 50 cơ sở năm 1789, số lượng nhà hàng tại Paris tăng vọt lên hơn 500 vào năm 1804 và đạt hơn 2.000 vào năm 1834. Các địa điểm như Méot, Véry hay Les Trois Frères Provençaux trở thành nơi giới trung lưu trải nghiệm sự tinh tế của tầng lớp quý tộc cũ.
Không chỉ dừng lại ở phân khúc cao cấp, mô hình này bắt đầu bình dân hóa. Năm 1855, thợ xẻ thịt Pierre-Louis Duval mở các cửa hàng bouillon (nhà hàng phục vụ nước dùng và thịt hầm) với giá rẻ cho người lao động, được coi là tiền thân của mô hình thức ăn nhanh hiện đại.
Khi sự cạnh tranh tại Paris trở nên quá khốc liệt, các đầu bếp Pháp bắt đầu mang công thức và mô hình này ra nước ngoài. Các nhà hàng phong cách Pháp xuất hiện tại nhiều thành phố châu Âu. Năm 1837, Delmonico’s mở cửa tại New York, trở thành nhà hàng hiện đại đầu tiên tại Mỹ, đánh dấu sự thống trị của mô hình ẩm thực từ Paris ra toàn cầu.
Từ một bát súp dành cho người đau dạ dày, nhà hàng Pháp đã trải qua một hành trình dài để trở thành biểu tượng, góp phần định hình ngành dịch vụ toàn cầu.
Tin Gốc: Vnexpress

Trên diện tích khoảng 5 ha, nơi đây đang trở thành điểm đến mới đầy sức hút của Đà Lạt, đặc biệt với các đoàn học sinh, sinh viên, gia đình và du khách yêu thích không gian xanh, những hoạt động trải nghiệm.
Giữa nhịp sống ngày càng vội vã, Langbiang Land giống như một khoảng lặng bình yên để du khách tìm về với thiên nhiên, hít hà mùi cỏ cây, cảm nhận hơi sương cao nguyên len nhẹ qua từng tán thông và lắng nghe tiếng cồng chiêng vang vọng giữa đại ngàn.
Nếu Đà Lạt được ví như nàng thơ của cao nguyên thì Langbiang Land chính là một nét chấm phá tươi mới trên bức tranh ấy. Khu du lịch nằm tựa lưng vào dãy Lang Biang kỳ vĩ, nơi những triền đồi xanh mướt nối dài như tấm thảm mềm ôm lấy không gian du lịch sinh thái đầy thơ mộng.
Ngay từ lối vào, du khách dễ dàng cảm nhận được sự trong lành rất riêng của vùng đất này. Những khóm hoa khoe sắc và những luống cỏ lau tím trải dài dọc lối đi và thác nước nhân tạo như những dải lụa mềm mại tạo nên khung cảnh vừa yên bình vừa cuốn hút. Mỗi góc nhỏ ở Langbiang Land đều được chăm chút như một điểm dừng chân để du khách có thể chậm rãi cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên.
Nổi bật giữa không gian ấy là hồ vô cực và cây cầu bán nguyệt - những điểm check-in được nhiều du khách yêu thích. Từ đây, phóng tầm mắt ra xa, du khách có thể chiêm ngưỡng toàn cảnh núi rừng Lang Biang hùng vĩ với những dãy thông xanh ngút ngàn, mây trắng lững lờ trôi ngang sườn núi, tạo nên bức tranh thiên nhiên thơ mộng và đầy mê hoặc.
Không chỉ mang vẻ đẹp của cảnh quan tự nhiên, Langbiang Land còn tạo cảm giác gần gũi nhờ những khu vườn xanh mát. Vườn đào vào mùa nở hoa khoác lên không gian sắc hồng dịu dàng như một góc xuân giữa cao nguyên. Những luống dâu căng mọng, những thác hoa rực rỡ sắc màu khiến nơi đây giống như một khu vườn cổ tích dành cho cả người lớn lẫn trẻ nhỏ.
Có lẽ chính sự giao hòa giữa núi rừng, hoa lá và không khí trong trẻo đã khiến Langbiang Land trở thành nơi để người ta tìm về sự thư thái. Ở đó, mỗi bước chân như chậm lại, mỗi hơi thở cũng nhẹ nhàng hơn giữa thiên nhiên rộng mở.
Không chỉ sở hữu cảnh quan đẹp, Langbiang Land còn hấp dẫn du khách bởi hệ thống sản phẩm du lịch đa dạng, khép kín, đáp ứng nhiều nhu cầu trải nghiệm khác nhau. Đây cũng là lý do nơi này nhanh chóng trở thành lựa chọn của nhiều đoàn học sinh, sinh viên và các gia đình mỗi dịp cuối tuần hay kỳ nghỉ.
Một trong những điểm nhấn đặc biệt của Langbiang Land chính là không gian văn hóa Tây nguyên được tái hiện sinh động. Trong tiếng cồng chiêng vang vọng giữa núi rừng, du khách như được chạm vào hồn cốt của đại ngàn. Những chương trình giao lưu văn hóa, biểu diễn nghệ thuật truyền thống mang đến cơ hội để du khách hiểu thêm về đời sống, phong tục và nét đẹp văn hóa của đồng bào bản địa.
Khi đêm xuống, ánh lửa bập bùng giữa sân hội càng làm cho không khí thêm ấm áp. Những điệu múa uyển chuyển bên tiếng chiêng ngân vang khiến du khách có cảm giác như đang bước vào một lễ hội của núi rừng Tây nguyên xưa.
Bên cạnh yếu tố văn hóa, Langbiang Land còn mang đến chuỗi hoạt động vui chơi, trải nghiệm phù hợp với nhiều lứa tuổi. Công viên khủng long với những mô hình sinh động khiến trẻ em thích thú như lạc vào thế giới tiền sử. Khu vườn thú cưng lại là nơi các em nhỏ được gần gũi với những loài động vật đáng yêu trong không gian thân thiện.
Đối với những du khách yêu thích cảm giác mạnh, các trò chơi như trượt phao, trượt máng, xe trượt địa hình hay Go-Kart mang lại những phút giây đầy phấn khích. Tiếng cười nói rộn ràng hòa cùng không khí trong lành của cao nguyên tạo nên sức sống trẻ trung cho khu du lịch này.
Điều đáng quý ở Langbiang Land là sự kết hợp hài hòa giữa vui chơi giải trí và trải nghiệm thiên nhiên. Du khách có thể vừa tham gia các hoạt động sôi động, vừa thong thả dạo bước giữa vườn cây, thưởng thức ly cà phê nóng trong tiết trời se lạnh hay cùng gia đình lưu lại những khoảnh khắc đẹp bên hồ nước, triền hoa.
Không gian rộng rãi, nhiều hoạt động tập thể cũng giúp nơi đây trở thành điểm đến lý tưởng cho các chương trình ngoại khóa, dã ngoại của học sinh, sinh viên. Những bữa ăn tập thể, các chương trình gala vui nhộn hay hoạt động team building giữa thiên nhiên giúp gắn kết mọi người bằng những trải nghiệm đáng nhớ.
Có thể nói, Langbiang Land không chỉ đơn thuần là một khu du lịch mới của Đà Lạt, mà còn là nơi mang đến cảm giác chữa lành giữa thiên nhiên cao nguyên. Ở đó có vẻ đẹp của núi rừng, có âm vang văn hóa bản địa và có cả tiếng cười rộn rã của những chuyến đi đầy trải nghiệm.
Giữa rất nhiều điểm đến của thành phố sương mù, Langbiang Land đang dần tạo cho mình dấu ấn riêng như một "thung lũng niềm vui" dưới chân núi Lang Biang hùng vĩ - nơi mỗi du khách khi rời đi đều mang theo cho mình một khoảng ký ức thật đẹp về Đà Lạt.
Tin Gốc: Thanh Niên

