Theo đó, Samsung mới đây đã xác nhận sự kiện Galaxy Unpacked sẽ diễn ra vào ngày 22/7 tại London. Gã khổng lồ công nghệ Hàn Quốc được cho là sẽ trình làng dòng Galaxy Z Flip8 cùng hai phiên bản Galaxy Z Fold8 khác nhau.
Sản phẩm mới từ Samsung được kỳ vọng sẽ trang bị công nghệ màn hình giúp xóa mờ nếp gấp và hệ thống camera tiên tiến. Những nâng cấp này có thể tạo ra một rào cản để đối đầu trực tiếp với iPhone gập.
Không đứng ngoài cuộc đua, Google cũng đã ấn định ngày 12/8 để giới thiệu thế hệ Pixel 11, bao gồm cả mẫu Pixel 11 Pro Fold. Việc tổ chức sự kiện sớm hơn Apple khoảng một tháng cho thấy quyết tâm của Google trong việc thu hút sự chú ý của người tiêu dùng.
Mẫu điện thoại gập mới của Google được dự đoán sẽ mỏng hơn đáng kể so với phiên bản tiền nhiệm. Những thay đổi về thiết kế nhằm tối ưu hóa trải nghiệm người dùng, từ đó gia tăng khả năng cạnh tranh với iPhone gập.
Sự dồn dập từ các đối thủ đang tạo ra áp lực không nhỏ cho Apple. Theo nhiều nguồn tin rò rỉ, hãng sẽ ra mắt chiếc iPhone màn hình gập đầu tiên vào tháng 9. Apple sẽ phải đối mặt với những đối thủ đã có nhiều năm kinh nghiệm trong việc tinh chỉnh thiết kế và xử lý các vấn đề kỹ thuật của màn hình gập.
Theo MacRumors, iPhone gập sẽ có màn hình khoảng 7,8 inch khi mở ra. Kích thước này tương đương với màn hình trên mẫu iPad mini. Camera selfie sẽ được đặt ở góc trên bên trái của màn hình.
Trong khi đó, màn hình ngoài của máy có kích thước 5,5 inch. Màn hình này có tỷ lệ ngắn hơn và vuông vức hơn so với những chiếc iPhone hiện tại. Thiết kế này gần giống kiểu dáng của một cuốn hộ chiếu.
Việc các hãng đồng loạt tung đòn sớm cho thấy họ muốn chiếm lĩnh thị phần và định hình tiêu chuẩn thị trường trước khi Apple kịp đặt chân vào sân chơi mới.
Tin Gốc: Dân Trí
Khoa Học Công Nghệ
'Siêu nhiên liệu' mới của Trung Quốc giúp tên lửa Trường Chinh tăng 10% tải trọng

Theo báo South China Morning Post ngày 23-6, tên lửa Trường Chinh-12 của Trung Quốc được phóng vào tuần trước đã sử dụng loại "siêu nhiên liệu" mới, giúp nâng năng lực mang tải thêm 10%.
Trong bối cảnh Trung Quốc mở rộng vai trò trong lĩnh vực không gian với hàng loạt sứ mệnh Mặt trăng đầy tham vọng và ngày càng đưa nhiều vệ tinh thương mại vào quỹ đạo, nhu cầu về tải trọng lớn hơn đang gia tăng.
Thay vì thiết kế các cấu trúc tên lửa lớn và tốn kém hơn, Viện Nghiên cứu công nghệ thử nghiệm hàng không vũ trụ Bắc Kinh, thuộc Tập đoàn Khoa học và Công nghệ hàng không vũ trụ Trung Quốc (CASC), đã tập trung tối đa hóa mật độ năng lượng của nhiên liệu.
Hiện nay phần lớn các vụ phóng tên lửa đều sử dụng động cơ nhiên liệu lỏng kết hợp oxy lỏng và dầu hỏa (kerolox).
Tuy nhiên hỗn hợp dựa trên dầu mỏ tinh chế này đã đạt đến giới hạn hiệu suất, thúc đẩy các nhà nghiên cứu phát triển một loại dầu hỏa tổng hợp năng lượng cao mới.
CASC cho biết loại nhiên liệu này giúp tăng xung lực riêng của động cơ - chỉ số đo hiệu suất tương tự mức tiêu hao nhiên liệu của ô tô - thêm khoảng 8 giây.
Xung lực riêng càng cao, động cơ tạo ra lực đẩy càng lớn với cùng một lượng nhiên liệu. Chỉ thêm tám giây cũng đủ để nâng tải trọng tên lửa thêm hàng trăm kg, cho phép mang theo nhiều vệ tinh thương mại hơn hoặc các thiết bị khoa học nặng hơn cho sứ mệnh không gian sâu.
Bước đột phá này có thể tạo ra tác động lớn đối với các vụ phóng trong tương lai, dù kerolox vẫn là tiêu chuẩn phổ biến của ngành.
Hiện các phương tiện phóng chủ lực của Trung Quốc đều sử dụng loại nhiên liệu này, từ tên lửa đẩy của Trường Chinh-5 hạng nặng, tầng lõi của Trường Chinh-6 hạng nhẹ đến toàn bộ tên lửa Trường Chinh-7 hạng trung.
Ngoài ra, các công ty như SpaceX của Mỹ cũng sử dụng hỗn hợp tương tự để vận hành tên lửa Falcon 9 và Falcon Heavy.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Khoa Học Công Nghệ
'Tự chủ chip Việt cần xóa khoảng trống về nhân lực và hạ tầng'

Trao đổi với VnExpress, TS Lê Quang Đạm, Tổng giám đốc Marvell Việt Nam, bày tỏ sự lạc quan về chủ trương phát triển ngành công nghiệp bán dẫn của Việt Nam. Ông đặt nền móng cho Marvell tại Việt Nam năm 2013 khi năng lực thiết kế vi mạch của Việt Nam chưa được thế giới đánh giá cao. Đến nay, doanh nghiệp hình thành đội ngũ kỹ sư thiết kế vi mạch trong nước với hơn 600 nhân sự, tham gia nghiên cứu những chip tiên tiến nhất với công nghệ 2-3 nm sử dụng trong các trung tâm dữ liệu AI.
- Ông nói Việt Nam có thể làm được mọi công đoạn trong thiết kế vi mạch, với những chip 2-3 nm tiên tiến nhất. Nhưng còn việc tự chế tạo một chip trong nước thì sao?
- Ngành công nghệ vi mạch bán dẫn chia làm ba công đoạn chính: thiết kế, sản xuất, đóng gói và kiểm thử. Với việc Viettel khởi công nhà máy sản xuất, FPT khởi công nhà máy đóng gói, kiểm thử, trong vài năm tới, Việt Nam sẽ có đầy đủ cả ba công đoạn để phát triển ngành công nghiệp vi mạch bán dẫn hoàn chỉnh. Tuy nhiên, năng lực và tiềm năng thực tế của mỗi công đoạn khác nhau.
Về thiết kế, sự hiện diện của Việt Nam trên toàn cầu ngày càng rõ nét. So với Singapore, Malaysia, Indonesia, Philippines và Thái Lan, Việt Nam đóng góp vai trò quan trọng hơn nhiều trong lĩnh vực thiết kế vi mạch. Chúng ta có cơ hội để phát triển hơn nữa cả về chất lượng, số lượng nhân sự để trở thành mắt xích quan trọng trong lĩnh vực thiết kế vi mạch của thế giới.
Về sản xuất, có thể nói, cả năng lực và tiềm năng đều "nhỏ" hơn. Theo tôi, mục tiêu trước mắt không phải sản xuất chip với những công nghệ mới nhất hay cạnh tranh trực tiếp với nhà sản xuất hàng đầu, mà là đảm bảo chủ quyền công nghệ và phục vụ cho thị trường trong nước. Như Viettel đề cập tại lễ khởi công, chúng ta đáp ứng các nhu cầu quốc phòng, nhu cầu của doanh nghiệp trong nước sản xuất chip với công nghệ 28-32 nm cho thiết bị điện tử tiêu dùng. Ngoài ra, nhà máy cũng sẽ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu, đào tạo.
Về công đoạn đóng gói và kiểm thử, Việt Nam có thể có thị trường rộng hơn với những khách hàng trong và ngoài nước khi nhu cầu ngày càng cao. Với sự phát triển của AI, rất nhiều công ty thiết kế chip nhưng không thể tìm được đối tác sản xuất, đóng gói và kiểm thử, vì các tập đoàn lớn đã chiếm gần hết năng lực sản xuất của TSMC, Intel, Samsung... Do đó, đầu ra của các doanh nghiệp đóng gói kiểm thử Việt Nam, đặc biệt khi chúng ta có thể làm chủ công nghệ đóng gói tiên tiến, khá rộng mở.
- Trong vài năm tới, khi xây dựng được một chuỗi bán dẫn hoàn chỉnh, ông dự đoán vị trí trong ngành của Việt Nam trên toàn cầu sẽ ra sao?
- Vị trí, vai trò của Việt Nam trong bức tranh tổng thể ngành vi mạch bán dẫn thế giới chắc chắn tốt hơn nhiều hiện nay. Không nhiều nước có công đoạn sản xuất chip, đóng gói và kiểm thử. Đa số tập trung vào một lĩnh vực như thiết kế hoặc cung ứng vật liệu hiếm cho ngành, còn Việt Nam sẽ có đầy đủ công đoạn.
Khi các nhà máy đi vào hoạt động hiệu quả, Việt Nam sẽ có sự hiện hữu khá rõ ràng trong ngành công nghiệp vi mạch bán dẫn toàn cầu. Cụ thể, Việt Nam có năng lực thiết kế, sản xuất đáp ứng một số nhu cầu nội địa về quốc phòng, điện tử và thúc đẩy đào tạo, nghiên cứu phát triển, đóng gói và kiểm thử phục vụ các doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Tuy vậy, để trở thành một mắt xích lớn, quan trọng và cạnh tranh toàn cầu sẽ cần có thời gian để kiểm chứng xem chúng ta có khả năng mở rộng quy mô, nâng cấp công nghệ sản xuất đóng gói và kiểm thử đến mức độ nào.
- Với những bước đầu như hiện nay, chúng ta cần chủ động chế tạo chip trong nước như thế nào để tránh kỳ vọng thiếu thực tế?
- Đó là việc sản xuất những chip với công nghệ 28-32 nm ở quy mô phục vụ thị trường điện tử tiêu dùng trong nước, sản phẩm quốc phòng, mục tiêu đào tạo và nghiên cứu.
Chip bán dẫn có nhiều phân khúc khác nhau. Trước mắt, năng lực sản xuất của Việt Nam chưa thể đáp ứng nhu cầu chế tạo những con chip công nghệ mới nhất, nhưng có thể tạo ra những chip sử dụng trong thiết bị điện tử tiêu dùng như thiết bị IoT, đồ gia dụng.
Thực tế, chip đơn vẫn đang chiếm 50% hoặc hơn về số lượng trên thị trường và có thể được sản xuất bằng công nghệ 28-32 nm của nhà máy mà Viettel đang xây dựng. Hiện đây vẫn là công nghệ phổ biến và đáp ứng rất tốt cho ngành hàng điện tử.
- Việt Nam có những điểm mạnh, lợi thế nào để phát triển ngành vi mạch bán dẫn?
- Việt Nam có hai lợi thế lớn.
Thứ nhất, là nước đi sau, chúng ta có thể học hỏi kinh nghiệm và tránh những thất bại mà các nước khác đã vấp phải. Cụ thể là về việc xây dựng quy trình sản xuất, quy trình đóng gói và kiểm thử, lên kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng về điện, nước, nguyên liệu hiếm một cách hiệu quả. Thời gian từ khi khởi công cho đến khi đưa nhà máy sản xuất chip vào vận hành của chúng ta có thể ngắn hơn so với các nước trước đây, rút ngắn thời gian thu hồi vốn và nhanh chóng đưa sản phẩm ra thị trường.
Thứ hai, về nhân lực, Việt Nam có nguồn sinh viên trong các chuyên ngành vi mạch bán dẫn và trí tuệ nhân tạo, cũng như các ngành khoa học kỹ thuật lân cận, ngày càng mở rộng. Đây là định hướng rất đúng đắn của Chính phủ, tạo ra nguồn cung kỹ sư chất lượng cao cho ngành bán dẫn trong tương lai. Trong khi đó, ở các nước Đông Nam Á hay trên thế giới nói chung, nguồn nhân lực này có xu hướng giảm đi.
- Nhưng có ý kiến cho rằng Việt Nam thiếu vốn đầu tư?
- Với một nhà máy sản xuất chip công nghệ 28-32 nm như Viettel triển khai, tôi ước tính số vốn cần đầu tư có thể khoảng 2 tỷ USD. Ngoài ra, chi phí duy trì, vận hành nhà máy mỗi năm có thể khoảng 300 triệu USD. Đây đúng là những con số lớn, nhưng không vượt ngoài khả năng của Việt Nam cho một công nghệ chiến lược.
Nói khó khăn về công nghệ hay thiết bị bán dẫn, tôi cũng không cho đó là điểm then chốt, vì thế hệ công nghệ này chúng ta có thể mua và nhận chuyển giao.
- Vậy đâu mới là điểm yếu, nút thắt cần tháo gỡ của bán dẫn Việt Nam?
- Tất nhiên bức tranh không hoàn toàn màu hồng. Trong chính lợi thế về nhân lực, có những điểm có thể làm tốt hơn. 10 năm qua, Marvell đã xây dựng đội ngũ kỹ sư từ sinh viên học ở những trường đại học tại Việt Nam với nền tảng khoa học cơ bản (toán, lý, hóa, điện tử, máy tính) vững chắc, tư duy phản biện tốt, tinh thần cầu tiến, ham học hỏi. Nhưng cũng phải nhìn nhận thực tế, chất lượng sinh viên của Việt Nam chưa thể bằng các trường hàng đầu của thế giới về chuyên môn, kinh nghiệm làm dự án, kỹ năng mềm.
Theo quan điểm của tôi, ưu tiên hàng đầu để phát triển ngành bán dẫn nên là phát triển nguồn nhân lực số lượng lớn, chất lượng cao đồng đều, đủ năng lực để sẵn sàng làm việc ngay khi tốt nghiệp mà không cần trải qua một quá trình đào tạo thêm lâu dài ở doanh nghiệp.
Cơ sở hạ tầng cũng là điểm cần cải thiện để đảm bảo cho việc sản xuất chip nội địa. Nguồn cung điện, nước của Việt Nam chưa được đầy đủ, ổn định khi so sánh với một số nước lân cận như Malaysia, Indonesia hay Thái Lan. Hệ thống mạng cáp quang biển cũng chưa sánh ngang được với những nước lân cận.
Hạ tầng là yếu tố cần sự đầu tư lớn, đồng bộ từ Chính phủ và các doanh nghiệp năng lượng, viễn thông để đáp ứng được nhu cầu phát triển của ngành bán dẫn.
- Sau khi đã có sản phẩm, Việt Nam còn cần những mắt xích nào để tạo thành một hệ sinh thái công nghiệp bán dẫn hoàn chỉnh?
- Khi phát triển công nghiệp vi mạch bán dẫn hay các ngành công nghệ cao nói chung, đôi lúc chúng ta tập trung quá nhiều vào những gì mình có thể làm được nhưng mình quên một điều rất quan trọng là đầu ra, sản phẩm đáp ứng được nhu cầu nào của khách hàng và thị trường. Ở đây sẽ cần vai trò điều phối và hỗ trợ của nhà nước. Thiếu thị trường, cho dù chúng ta có sản phẩm và công nghệ, ngành công nghiệp sẽ không phát triển được.
Thứ nhất, ngành công nghiệp điện tử ở Việt Nam phải sẵn sàng mở cửa để dùng chip nội địa. Hiện nay, do nhiều yếu tố, đa số hàng điện tử Việt Nam sử dụng những con chip Trung Quốc hoặc Đài Loan. Chúng ta cần có một chính sách thống nhất từ nhà nước làm sao để khuyến khích sử dụng hoặc bảo hộ chip Việt.
Thứ hai, các doanh nghiệp thiết kế vi mạch trong nước, với những dòng thiết kế mà năng lực sản xuất trong nước có thể đáp ứng, cần hợp tác với Viettel, FPT để sản xuất ra những chip với giá hợp lý hoặc cạnh tranh hơn so với các sản phẩm nước ngoài sẵn có trên thị trường. Điều này có thể thực hiện thông qua chương trình hỗ trợ, trợ giá sản xuất của Chính phủ để thúc đẩy sự phát triển của chip nội địa.
Với những yếu tố đó, chúng ta sẽ tạo ra sự phối hợp từ thiết kế đến sản xuất, đưa chip vào sử dụng cho ngành điện tử trong nước. Đây là cách chúng ta có thể tận dụng việc có cả ba công đoạn để tạo thành một chuỗi hoàn chỉnh, tạo đà cho ngành bán dẫn Việt Nam tiếp tục phát triển.
Tin Gốc: Vnexpress

Tối 10/4 theo múi giờ EDT (sáng 11/4 giờ Hà Nội), tàu Orion đưa phi hành đoàn Artemis II đáp xuống Thái Bình Dương, kết thúc chuyến bay lịch sử vòng quanh Mặt Trăng. "Tàu Integrity (tên do phi hành đoàn Artemis II đặt cho tàu Orion) và bốn phi hành gia đã hạ cánh thành công mỹ mãn. Về mọi mặt, đây là nhiệm vụ hoàn hảo như sách giáo khoa", Rob Navias, phát ngôn viên của NASA, nhận xét.
Hành trình trở về thực chất được lập trình sẵn ngay từ đầu, tận dụng trọng lực Mặt Trăng để bẻ cong quỹ đạo của Orion, giúp tàu quay lại Trái Đất mà không cần nhiều hỗ trợ từ động cơ tên lửa. Samantha Kenyon, phó giáo sư kỹ thuật hàng không vũ trụ tại Đại học Bách khoa Virginia, cho biết đó chính là phần "tự do" trong quỹ đạo "trở về tự do" của con tàu.
Theo Kenyon, có hai lựa chọn là khai hỏa động cơ khi Orion bay qua phía xa Mặt Trăng (phía luôn khuất khi nhìn từ Trái Đất), gián đoạn liên lạc vô tuyến với Trái Đất, hoặc khai hỏa sớm hơn nhiều, khi vẫn ở gần hành tinh xanh. Phương án thứ hai mang lại ít rủi ro hơn cho phi hành gia nếu động cơ tên lửa gặp trục trặc.
Ngoài ra, quỹ đạo trở về tự do cũng giúp phi hành đoàn Artemis II phá vỡ kỷ lục của Apollo 13 về khoảng cách xa Trái Đất nhất mà con người từng bay, thiết lập năm 1970. Cụ thể, Artemis II đã bay cách Trái Đất khoảng 406.771 km, xa hơn 6.616 km so với Apollo 13.
Ngày 2/4, Orion khai hỏa động cơ tên lửa gần 6 phút, tiêu thụ khoảng 450 kg nhiên liệu, vừa đủ để rời xa Trái Đất và thiết lập lộ trình bay vòng qua Mặt Trăng rồi trở về theo quỹ đạo trở về tự do. Thao tác này diễn ra suôn sẻ đến mức NASA đã bỏ qua vài lần khai hỏa nhỏ hơn để điều chỉnh đường bay theo kế hoạch.
Các kỹ sư hàng không vũ trụ có thể vạch ra quỹ đạo như vậy bằng cách coi Trái Đất và Mặt Trăng như "giếng trọng lực". Hãy hình dung một bản đồ địa hình, trong đó Trái Đất và Mặt Trăng là hai hố lớn, bao quanh là những ngọn đồi uốn lượn. Quỹ đạo trở về tự do giống như đường lăn của viên bi, đưa Orion di chuyển dọc theo những đường cong xung quanh giếng trọng lực Mặt Trăng, sau đó lại bị kéo tới giếng trọng lực Trái Đất. "Một khi đạt đến độ cao nhất định trên bản đồ địa hình và tiến vào con đường đó, tàu sẽ tiếp tục đi mà không tốn năng lượng", Kenyon giải thích với Scientific American.
Việc sử dụng quỹ đạo trở về tự do được nhiệm vụ Luna 3 của Liên Xô tiên phong ứng dụng, lần đầu tiên đưa tàu không người lái đến chụp ảnh phía xa Mặt Trăng. Tuy nhiên, lần sử dụng nổi tiếng nhất có lẽ thuộc về nhiệm vụ Apollo 13 của Mỹ.
Tháng 4/1970, tàu Apollo 13 chở ba phi hành gia NASA James A. Lovell, John "Jack" Swigert, Fred Haise bay đến Mặt Trăng, dự định đổ bộ khu vực Fra Mauro. Tuy nhiên, tàu gặp sự cố vỡ bình oxy trên đường đi khiến cuộc đổ bộ bị hủy. Phi hành đoàn sau đó quyết định xoay xở tiến vào quỹ đạo trở về tự do nhằm "hồi hương" an toàn.
Theo Jay Warren McMahon, phó giáo sư kỹ thuật hàng không vũ trụ tại Đại học Colorado, Boulder, quỹ đạo hình số 8 đặc trưng này được coi là một lời giải cho bài toán "ba vật thể" - gồm Trái Đất, Mặt Trăng và tàu vũ trụ - trong cơ học quỹ đạo. Lực hấp dẫn của Mặt Trời gây nhiễu loạn nhẹ cho đường bay, do đó cũng được đưa vào các phép tính.
Việc giải bài toán thường đòi hỏi vẽ đồ thị chuyển động của tàu vũ trụ từ vùng ảnh hưởng của trọng lực Trái Đất, nơi lực hút của hành tinh xanh chiếm ưu thế, đến vùng ảnh hưởng trọng lực Mặt Trăng. Trong nhiệm vụ Artemis II, sự chuyển đổi này diễn ra khoảng 0h41 ngày 6/4 (11h41 theo giờ Hà Nội), đánh dấu lần đầu tiên con người bước vào không gian Mặt Trăng kể từ nhiệm vụ Apollo 17 năm 1972.
"Chúng ta bay vượt lên trước Mặt Trăng, sau đó nó đuổi kịp, kéo chúng ta trở lại và quăng vòng quanh. Vì vậy, thực chất chúng ta sẽ quay về nhanh hơn và theo một quỹ đạo khác so với trường hợp không có Mặt Trăng", McMahon giải thích về quỹ đạo trở về tự do đưa tàu vũ trụ bay vòng qua Mặt Trăng, trở lại Trái Đất.
Phương pháp tính toán này cũng là cơ sở cho thao tác "ná cao su trọng lực" mà các tàu liên hành tinh như Voyager của NASA thực hiện nhằm tối ưu hóa thời gian di chuyển trong hệ Mặt Trời. Tất cả đều dựa trên sự truyền động lượng thông qua lực kéo hấp dẫn từ vật thể lớn hơn như Mặt Trăng hoặc hành tinh, lên tàu vũ trụ nhỏ để thay đổi quỹ đạo tàu theo hướng mong muốn.
Tàu Orion rời bệ phóng tối 1/4 (5h35 ngày 2/4 giờ Hà Nội) đưa phi hành đoàn Artemis II bay tới Mặt Trăng, thực hiện nhiệm vụ có người lái đầu tiên của NASA vượt ra ngoài quỹ đạo Trái Đất tầm thấp sau 54 năm. Phi hành đoàn được ví "đại diện cho thế giới", khi lần đầu có phụ nữ, người da màu và thành viên không phải người Mỹ bay tới Mặt Trăng.
Phi hành đoàn Artemis II ước tính đã di chuyển quãng đường 1.117.659 km trong toàn bộ hành trình vòng quanh Trái Đất và Mặt Trăng, tổng thời gian bay ước tính là 9 ngày 1 giờ và 31 phút.
Artemis II được thiết kế như một bước đệm cho chương trình Artemis của NASA, hướng tới thiết lập sự hiện diện lâu dài của con người trên Mặt Trăng. Nhiệm vụ không người lái Artemis I diễn ra hồi tháng 11/2022, sau nhiều đợt hoãn và hủy phóng. Sau thành công của Artemis II, NASA sẽ thử nghiệm tàu Orion và các trạm đổ bộ Mặt Trăng trên quỹ đạo Trái Đất trong nhiệm vụ Artemis III năm 2027. Cơ quan này đặt mục tiêu thực hiện chuyến đổ bộ lên bề mặt vào năm 2028 với nhiệm vụ Artemis IV. Đến thập niên 2030, NASA kỳ vọng bắt đầu phát triển các khu định cư, robot tự hành và trạm đổ bộ chở hàng, hướng đến thiết lập sự hiện diện bền vững trên bề mặt Mặt Trăng.
Tin Gốc: Vnexpress

