Tại buổi làm việc của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày 25/5, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhận định Việt Nam vẫn thiếu các trung tâm nghiên cứu xuất sắc, thiếu phòng thí nghiệm hiện đại, thiếu cơ sở dữ liệu lớn, hạ tầng tính toán dùng chung và cơ chế đầu tư dài hạn cho các nhóm nghiên cứu mạnh. Nhiều thiết bị, phòng thí nghiệm được đầu tư phân tán, thiếu kết nối, hiệu quả khai thác chưa cao.
Theo đó, Tổng Bí thư Tô Lâm cho rằng Việt Nam cần tập trung xây dựng hạ tầng dữ liệu và hạ tầng tri thức quốc gia, coi đây là nền tảng cho nghiên cứu khoa học trong giai đoạn mới. Ngoài các nội dung như hệ thống thiết bị dùng chung, hạ tầng tính toán hiệu năng cao, dữ liệu khoa học, dữ liệu xã hội, thư viện số, kho dữ liệu, phòng thí nghiệm trọng điểm cũng là một trong những nội dung cần đầu tư xây dựng.
Thực tế từ năm 2000, Nhà nước đã đầu tư xây dựng 16 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia trong các lĩnh vực công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, vật liệu, tự động hóa, cơ khí, hóa học, môi trường, đo lường và năng lượng, tổng kinh phí khoảng 967 tỷ đồng. Các phòng thí nghiệm này góp phần hình thành một số nhóm nghiên cứu mạnh, đào tạo nhân lực trình độ cao và tạo nền tảng cho hoạt động khoa học công nghệ.
Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ Khoa học và Công nghệ, hệ thống này chưa thực sự trở thành hạ tầng nghiên cứu chiến lược của quốc gia, chưa tạo được năng lực nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ lõi có vai trò dẫn dắt các ngành công nghiệp chiến lược. Những hạn chế tồn tại ở nhiều khía cạnh, từ quy hoạch, đầu tư, quản trị đến cơ chế tài chính và phát triển nhân lực.
Những đánh giá này cũng đặt ra yêu cầu tái cấu trúc toàn diện hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển các công nghệ chiến lược trong giai đoạn mới.
Phòng thí nghiệm trọng điểm là hạ tầng cốt lõi
Tại hội thảo “Báo cáo và trao đổi, đề xuất mô hình tổ chức, quản lý, vận hành các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm và phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia”, hôm 2/6, Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm để phục vụ nghiên cứu phát triển và làm chủ công nghệ chiến lược. Đây là “hạ tầng cốt lõi đối với năng lực nghiên cứu, phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo của quốc gia”, ông nói. Hệ thống này cũng có tác động rất lớn đến việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao.
Theo đó Đề án phát triển hệ thống các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm và phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia do Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng, Việt Nam sẽ tập trung phát triển hệ thống hạ tầng nghiên cứu theo hướng đồng bộ hơn, thay vì chủ yếu đầu tư các phòng thí nghiệm riêng lẻ như trước đây. Trong mô hình này, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia được đặt trong một hệ thống gồm trung tâm nghiên cứu, nền tảng dữ liệu, hạ tầng tính toán, hệ thống thiết bị dùng chung và mạng lưới chuyên gia.
Đề án đề xuất xây dựng hệ thống hạ tầng nghiên cứu theo ba tầng. Trong đó, tầng cao nhất là các trung tâm nghiên cứu và phòng thí nghiệm quốc gia chiến lược, có nhiệm vụ thực hiện các chương trình nghiên cứu quy mô lớn, phát triển công nghệ lõi và triển khai các nhiệm vụ công nghệ chiến lược của quốc gia. Dự kiến sẽ hình thành khoảng 10-15 trung tâm và phòng thí nghiệm thuộc nhóm này.
Nguồn lực đầu tư được đề xuất tập trung vào một số lĩnh vực ưu tiên gồm trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn, công nghiệp bán dẫn, công nghệ sinh học và y sinh, vật liệu tiên tiến, năng lượng mới và năng lượng tái tạo.
Theo đề án, khoảng 60-70% nguồn lực đầu tư trong giai đoạn đầu sẽ dành cho các lĩnh vực này. Các lĩnh vực như robot và tự động hóa, điện toán hiệu năng cao, công nghệ lượng tử, công nghệ biển và công nghệ hàng không – không gian được đưa vào lộ trình đầu tư ở giai đoạn tiếp theo.
Đề án cũng đề xuất xây dựng nền tảng kết nối các phòng thí nghiệm, thiết bị nghiên cứu, cơ sở dữ liệu, chuyên gia và năng lực thử nghiệm trên phạm vi cả nước. Các phòng thí nghiệm quốc gia được định hướng hoạt động theo cơ chế mở, cho phép trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và địa phương tiếp cận, khai thác hạ tầng nghiên cứu.
Cùng với hệ thống phòng thí nghiệm, Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu khoa học quốc gia và các nền tảng chia sẻ dữ liệu phục vụ nghiên cứu. Dữ liệu khoa học, dữ liệu xã hội, dữ liệu văn hóa, ngôn ngữ và di sản được xác định là một phần của hạ tầng nghiên cứu phục vụ phát triển các công nghệ số và trí tuệ nhân tạo.
Về mô hình vận hành, đề án đề xuất Nhà nước tập trung vào xây dựng chiến lược, đầu tư hạ tầng, giao nhiệm vụ và đánh giá kết quả. Việc vận hành các trung tâm nghiên cứu và phòng thí nghiệm quốc gia có thể được giao cho các trường đại học, viện nghiên cứu hoặc doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chí về năng lực nghiên cứu, nhân lực và quản trị.
Đề án cũng đề xuất các cơ chế phát triển nguồn nhân lực phục vụ hạ tầng nghiên cứu, bao gồm đội ngũ nhà khoa học, kỹ sư nghiên cứu, kỹ thuật viên vận hành thiết bị, chuyên gia dữ liệu và chuyên gia quản lý hạ tầng khoa học. Các chính sách tuyển dụng, thu hút chuyên gia trong nước và quốc tế cũng được đưa vào định hướng phát triển hệ thống trong giai đoạn tới.
Thứ trưởng Lê Xuân Định cho biết Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ tiếp tục hoàn thiện Đề án, thể hiện rõ các cơ chế đột phá để báo cáo cấp có thẩm quyền, đảm bảo sẵn sàng hành lang pháp lý trong phát triển và vận hành hệ thống phòng thí nghiêm trọng điểm quốc gia.
Thông điệp được ông chia sẻ tại hội nghị gặp gỡ, đối thoại giữa lãnh đạo và đoàn viên thanh niên 4V1M, chiều 19/5 ở Hà Nội. Chương trình có sự tham gia của Bộ Khoa học và Công nghệ cùng bốn đơn vị nghiên cứu, đào tạo lớn gồm Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia TP HCM.
Đầu phần đối thoại, Bộ trưởng dành thời gian kể về hành trình đến với khoa học của mình. Khi còn là sinh viên năm ba, ông tham gia chương trình nghiên cứu khoa học Euréka do Thành đoàn TP HCM tổ chức. "Chính phong trào đó giúp tôi định hình nghiên cứu khoa học là gì, và có lẽ mình nên đi theo con đường nghiên cứu khoa học", ông nói. Điều ông trăn trở là làm sao ngày càng nhiều bạn trẻ đi theo con đường khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, bởi nếu không, đất nước khó phát triển.
Trò chuyện với đoàn viên, Bộ trưởng trở về vai một người thầy, trả lời ba câu hỏi mà sinh viên thường đặt ra cho ông: "Em có làm nghiên cứu được không?", "Em phải bắt đầu như thế nào?" và "Liệu em có thành công không?".
Ông kể mình từng là học sinh một trường huyện ngoài Bắc, sau đó vào TP HCM học đại học với vô vàn khó khăn, tiếng Anh không biết. Đến năm thứ ba, khi được giao đề tài về đồ họa máy tính, để đọc hiểu sách tiếng Anh, ông đi mua từ điển rồi tự dịch. "Ban đầu rất khó, nhưng lặp đi lặp lại, dần dần đọc được, hiểu được các thuật toán. Đó là lúc tôi bắt đầu bập bẹ làm nghiên cứu, bắt đầu từ việc đọc sách", ông nói.
Theo ông, nếu đạt một mức sàn nhất định, thi đậu đại học với một số điểm nhất định, "chúng ta đều có thể làm khoa học". Do đó, ông khuyến khích người trẻ bắt đầu hành trình nghiên cứu.
Với câu hỏi bắt đầu thế nào, Bộ trưởng cho rằng người trẻ không nên chọn ngay bài toán quá lớn, mà bắt đầu từ "một thách thức nhỏ và một chiến thắng nhỏ" để tạo ra động lực tiếp tục hành trình.
Về khả năng thành công, ông nhắc tới yếu tố phải có của người làm khoa học, gồm tầm nhìn - biết mình muốn trở thành một người như thế nào; một tâm thế mở - luôn chịu khó, luôn kiên trì rèn luyện; đáp ứng quy tắc 10.000 giờ làm việc trong một lĩnh vực để trở thành chuyên gia; xây dựng các mối quan hệ học thuật và cuối cùng là phải có một kế hoạch hành động cụ thể.
Bộ trưởng cho biết Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ có các chương trình hỗ trợ cho sinh viên tài năng, nhà khoa học trẻ và học viên cao học, dự kiến triển khai từ tháng 9. Các chương trình này sẽ giúp người trẻ có "một line riêng", thay vì phải cạnh tranh trực tiếp với các nhà khoa học đầu ngành.
Người trẻ ngày càng quan tâm đến khoa học
Không khí đối thoại sôi nổi tại diễn đàn 4V1M cho thấy người trẻ đang quan tâm nhiều hơn tới nghiên cứu khoa học, từ nghiên cứu cơ bản, thương mại hóa kết quả nghiên cứu đến việc đưa công nghệ vào thực tiễn.
Giảng viên Đại học Quốc gia Hà Nội Lê Khánh Trình đặt câu hỏi về cơ chế thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và hỗ trợ phát triển doanh nghiệp spin-off trong trường đại học. Tiến sĩ trẻ Đỗ Thu Trang quan tâm làm sao để rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu trong phòng thí nghiệm với nhu cầu thực tiễn của xã hội. Trong khi đó, Lê Hoài Nam, sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đặt vấn đề, liệu những thay đổi gần đây có làm giảm sự đầu tư dành cho lĩnh vực này.
PGS. TS Phạm Bảo Sơn, Phó giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, để có thể thương mại hóa kết quả nghiên cứu, trước hết nghiên cứu phải xuất phát từ thực tiễn. Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã bổ sung nhiều cơ chế mới, như trường đại học và nhà khoa học được quyền khai thác tài sản trí tuệ tạo ra từ nhiệm vụ khoa học công nghệ, còn tác giả được hưởng 30% nguồn thu từ việc khai thác tài sản này.
"Đây là những cơ chế quan trọng để tạo động lực cho các nhà khoa học thương mại hóa kết quả nghiên cứu", PGS Sơn nói.
Trong khi đó, GS. TS Trần Tuấn Anh, Phó chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, cho rằng điều quan trọng nhất để đưa nghiên cứu vào thực tiễn là "sự kết nối", tức phải bám sát nhu cầu của doanh nghiệp và xã hội. Khi hình thành được hệ sinh thái kết nối chặt chẽ, kết quả nghiên cứu sẽ được chuyển giao vào sản xuất nhanh hơn.
Với câu hỏi về nghiên cứu cơ bản, PGS. TS Nguyễn Đức Minh, Phó chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam khẳng định, lĩnh vực nào cũng cần nghiên cứu nền tảng, từ toán học đến khoa học xã hội. "Nghiên cứu cơ bản chính là làm nhiệm vụ xây dựng nền móng", ông nói, thêm rằng đây là yếu tố tạo ra sự bền vững và căn cơ cho khoa học công nghệ.
Ông nhấn mạnh, nghiên cứu cơ bản thường không tạo ra lợi ích hữu hình ngay lập tức như sản phẩm công nghệ, vì vậy cần sự đầu tư của Nhà nước cũng như sự kiên trì của nhà khoa học theo đuổi lĩnh vực.
Đồng quan điểm, PGS. TS Nguyễn Minh Tâm, Phó giám đốc Đại học Quốc gia TP HCM, cho biết đơn vị "rất quan tâm" tới khoa học cơ bản. Theo ông, những quốc gia có công nghệ phát triển mạnh đều có nền khoa học cơ bản vững chắc. Bên cạnh chương trình nghiên cứu ứng dụng, Đại học Quốc gia TP HCM vẫn có những chương trình riêng dành cho lĩnh vực này.
Khép lại diễn đàn, nhân Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam 18/5, đoàn thanh niên các đơn vị thuộc khối 4V1M đã ký ghi nhớ hợp tác thúc đẩy nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực trẻ.
Trung Quốc đang gặt hái nhiều thành công trong công nghệ sản xuất vách ngăn bồn nhiên liệu. Hôm 10/7, tên lửa Trường Chinh 10B (CZ-10B) của Trung Quốc đưa vệ tinh lên quỹ đạo, sau đó hạ cánh thẳng đứng xuống lưới đỡ khổng lồ gắn trên giàn nổi ngoài khơi, đánh dấu lần đầu thu hồi tên lửa tái sử dụng. Chuyến bay sử dụng phần nắp sản xuất bằng phương pháp hàn có thể sánh ngang với dòng tên lửa Falcon của SpaceX nhưng có thể sản xuất nhanh hơn.
Đồng thời, các nhà nghiên cứu Trung Quốc cũng giới thiệu kỹ thuật "định hình lạnh" cho phép tạo ra một chiếc nắp hoàn chỉnh không đường nối trong vòng vài giờ thay vì một tuần.
Công ty công nghệ điều khiển số Thượng Hải sản xuất vách ngăn bồn nhiên liệu ở tên lửa Trường Chinh 10B bằng công cụ máy móc phát triển trong nước và theo tiêu chuẩn tương tự dòng Falcon của SpaceX. Họ sử dụng hai quy trình cốt lõi, bao gồm phương pháp phay gương 5 trục kép, gia công nắp liền mạch với giá đỡ để ngăn vật liệu mỏng bị biến dạng áp lực cắt, đảm bảo độ chính xác và hiệu quả. Hiện nay, chỉ có ba nhà cung cấp trên thế giới sở hữu công nghệ phay gương như vậy là tập đoàn Dufieux của Pháp, M. Torres của Tây Ban Nha và Công ty công nghệ điều khiển số Thượng Hải, trong đó hệ thống của Trung Quốc có lợi thế về độ chính xác, thời gian chu kỳ và chi phí.
Quy trình thứ hai xử lý mối nối giữa nắp và thân bồn nhiên liệu bằng hệ thống hàn ma sát khuấy dài 5 m. Khi dụng cụ khuấy quay nhanh, ma sát tạo ra nhiệt làm mềm và nhào trộn kim loại với nhau, tạo ra mối hàn hoàn hảo. Phương pháp này tăng cường độ bền mỏi của mối nối gấp nhiều lần so với hàn nóng chảy thông thường, cung cấp độ bền cần thiết cho tên lửa bay nhiều lần mà không hỏng hóc.
Theo Công ty công nghệ điều khiển số Thượng Hải, kết hợp hai công nghệ trên "chính là hướng sản xuất cốt lõi giúp SpaceX thu hồi dòng Falcon với độ tin cậy cao". So với các quy trình sản xuất phân đoạn truyền thống, giải pháp này làm giảm gần 400 kg trọng lượng nắp ở tên lửa với thông số kỹ thuật vượt tiêu chuẩn quốc tế.
China Science Daily hôm 12/7 đưa tin một nhóm nhà nghiên cứu ở Đại học Công nghệ Đại Liên phát triển công nghệ tạo hình nguyên khối siêu lạnh cho hợp kim nhôm, giúp thúc đẩy sản xuất vách ngăn bồn nhiên liệu hiệu quả.
Trái với quan điểm thông thường cho rằng kim loại trở nên giòn và kém bền trong điều kiện lạnh, các nhà nghiên cứu phát hiện ở nhiệt độ cực thấp, hợp kim nhôm đồng thời tăng cả độ giãn dài và hệ số biến cứng nguội (khả năng tăng độ bền của kim loại bằng biến dạng dẻo). Dựa vào hiệu ứng vật lý này, họ phát triển quy trình tạo hình độc quyền bao gồm đặt tấm hợp kim nhôm dày 4 mm trong buồng lạnh -196 độ C và tạo hình một lần duy nhất thành chiếc nắp nhẵn mịn sẵn sàng sử dụng trực tiếp mà không cần gia công thêm.
Theo Bastille Post Global, so với phương pháp truyền thống tạo hình nhiều phần riêng biệt và hàn lại với nhau, tạo hình nguyên khối siêu lạnh có thể tăng cường hiệu suất sử dụng vật liệu lên hơn 85% và giảm thời gian sản xuất từ hơn một tuần xuống vài giờ.
Nhóm nghiên cứu phối hợp với Viện công nghệ phóng tên lửa Trung Quốc (CALT) và chứng minh vách ngăn hình vòm mới bay thành công trong các nhiệm vụ Trường Chinh 12 và Trường Chinh 7A Y14. Ngoài ra, họ cũng hợp tác với Công ty công nghệ Yongxing Gongda để xây dựng dây chuyền sản xuất vách ngăn cỡ 4 m tại Khu Phát triển Kinh tế Jizhou ở Thiên Tân. Theo CGTN, hồi tháng 5, lô vách ngăn sản xuất hàng loạt đầu tiên xuất xưởng với công suất hàng năm trên 1.000 đơn vị, đủ để hỗ trợ lắp ráp hơn 100 tên lửa mỗi năm.
Theo SCMP, trong cuộc đua vũ trụ giữa Mỹ và Trung Quốc, lợi thế quyết định có thể nằm ở một bộ phận ít người biết là vách ngăn bồn nhiên liệu. Trên tên lửa đẩy, thân bồn nhiên liệu hình trụ cần hai "chiếc mũ" dạng vòm hình elip hoặc parabol hàn chặt ở hai đầu để phân phối đều lực ép, giúp bồn chứa khỏi nổ tung dưới áp suất nén nạp khí và áp suất hóa hơi của nhiên liệu siêu lạnh.
Vách ngăn rộng vài mét nhưng chỉ dày vài milimét và chịu áp suất, rung lắc, chấn động cực lớn. Do rất khó sản xuất hàng loạt, quốc gia nào có thể sản xuất vách ngăn bồn nhiên liệu nhanh, rẻ với độ tin cậy cao hơn sẽ nắm giữ lợi thế lớn khi phát triển đội tên lửa tái sử dụng cho nền kinh tế không gian trong tương lai.
Tại sự kiện "AI: Shaping Human-Centered Innovation" diễn ra ở Hà Nội mới đây, tiến sĩ Ed H. Chi, Phó chủ tịch Nghiên cứu tại Google DeepMind, ví AI như động cơ trong "Cách mạng Công nghiệp". Ông nhận định doanh nghiệp không thể chỉ mua một động cơ đặt vào nhà máy là xong, mà cần đội ngũ kỹ sư tìm cách vận hành sao cho phù hợp với thực tế sản xuất.
Theo ông, nhân sự công nghệ Việt Nam có thể đảm nhận vai trò này nhờ khả năng hiểu sâu về AI để ứng dụng hiệu quả vào các lĩnh vực cốt lõi như y tế, tài chính và sản xuất.
Sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo cũng đặt ra những yêu cầu mới cho hệ thống giáo dục và nhân lực. Tiến sĩ Lương Minh Thắng, Giám đốc Nghiên cứu tại Google DeepMind nhấn mạnh phẩm chất quan trọng nhất của thế hệ trẻ hiện nay là năng lực phán đoán để tránh tiếp nhận thông tin thụ động từ máy tính. Ông Thắng cũng chỉ ra một điểm nghẽn mới của xã hội là sự thiếu hụt những người có khả năng kiểm chứng, diễn giải tri thức do AI tạo ra.
Ở góc độ giáo dục, Giáo sư Po-Shen Loh từ Đại học Carnegie Mellon (Mỹ) nhận định mô hình đào tạo bắt buộc phải chuyển dịch từ "học để biết" sang "học để suy nghĩ".
Bên cạnh bài toán nhân lực, vấn đề an ninh thông tin và độ tin cậy của công nghệ cũng được đặt ra. Giáo sư Preslav Nakov (Trưởng khoa Xử lý ngôn ngữ tự nhiên tại MBZUAI) cảnh báo AI tạo sinh đang làm gia tăng nguy cơ lan truyền thông tin sai lệch ở quy mô lớn, đòi hỏi các hệ thống công nghệ tương lai phải hướng tới tính minh bạch và đáng tin cậy.
Để thúc đẩy năng lực ứng phó của lực lượng lao động trẻ trước bước ngoặt công nghệ, ông Trương Gia Bình, Chủ tịch FPT khẳng định không một tổ chức nào có thể duy trì năng lực cạnh tranh nếu đứng ngoài làn sóng AI. Hiện các doanh nghiệp công nghệ trong nước đang tập trung xây dựng các liên minh nghiên cứu và quỹ giải thưởng quy mô lớn nhằm tạo động lực cho nhân sự trẻ tham gia giải quyết các bài toán thực tế bằng AI.