Ngày 27-5, Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ (NASA) cho biết dự án thuộc chương trình Artemis sẽ hướng tới thiết lập sự hiện diện lâu dài của con người tại khu vực cực Nam Mặt trăng từ năm 2032.
Theo Đài ABC, căn cứ sẽ không phải là một “thành phố khoa học viễn tưởng” khổng lồ, mà gồm nhiều khu sinh hoạt, phòng thí nghiệm, hệ thống điện, phương tiện di chuyển và các robot hỗ trợ hoạt động nghiên cứu.
NASA cho biết đã ký hợp đồng với 4 công ty Mỹ, trong đó có Blue Origin của tỉ phú Jeff Bezos, nhằm phát triển hạ tầng phục vụ các sứ mệnh dài hạn trên Mặt trăng.
Các kế hoạch hiện nay còn bao gồm xe tự hành, tàu đổ bộ robot và thiết bị bay không người lái để giám sát khu vực căn cứ.
Lộ trình gồm ba giai đoạn. Giai đoạn đầu kéo dài đến năm 2029 sẽ tập trung đưa phi hành gia trở lại Mặt trăng và triển khai các hệ thống robot thám hiểm đầu tiên. NASA dự kiến sứ mệnh Artemis III sẽ đưa người lên Mặt trăng vào năm 2027, trong khi Artemis IV có thể diễn ra từ năm 2028.
Giai đoạn hai, từ năm 2029 đến năm 2032, sẽ tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng như hệ thống điện, mạng lưới vận tải và công nghệ khai thác tài nguyên. Giai đoạn ba, từ sau năm 2032, NASA đặt mục tiêu xây dựng nơi cư trú dài hạn với các cấu trúc kiên cố hơn, hướng tới sự hiện diện thường trực của con người.
NASA lựa chọn cực Nam Mặt trăng do khu vực này được cho là chứa lượng lớn băng nước đóng trong các hố va chạm.
Ngoài mục tiêu nghiên cứu khoa học, NASA xem Mặt trăng là “bãi thử” cho các sứ mệnh tương lai lên sao Hỏa. Việc duy trì con người trên Mặt trăng sẽ giúp kiểm nghiệm công nghệ hỗ trợ sự sống, nơi cư trú và khả năng sinh tồn trong môi trường không gian khắc nghiệt.
Kế hoạch của NASA cũng diễn ra trong bối cảnh cạnh tranh không gian ngày càng gia tăng. Trung Quốc hiện hợp tác với Nga để phát triển Trạm Nghiên cứu Mặt trăng quốc tế trong thập niên 2030, khiến cuộc đua thiết lập hiện diện lâu dài trên Mặt trăng nóng lên trở lại sau nhiều thập kỷ.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Sau 4 năm xung đột Nga - Ukraine, Robin Radar, công ty Hà Lan chuyên sản xuất hệ thống radar phát hiện thiết bị bay không người lái (drone) được Ukraine và các đồng minh của Mỹ ở Trung Đông sử dụng, đã nhận ra bài học rằng việc quá chú trọng vào tính hoàn hảo của vũ khí có thể khiến kho dự trữ bị thiếu hụt và không kịp đưa ra chiến trường.
Kristian Brost, tổng giám đốc Robin Radar chi nhánh tại Mỹ, nói rằng một giải pháp chưa hoàn hảo ở "ngay thời điểm hiện tại đôi khi vẫn tốt hơn một giải pháp hoàn hảo nhưng lại quá muộn".
Đây cũng là điều mà ngày càng nhiều nhà sản xuất vũ khí cũng như quân đội phương Tây nhận ra nhờ chiến sự Ukraine. Mục tiêu của họ hiện tại không phải sở hữu một vũ khí hoàn hảo nữa, mà là nắm trong tay những hệ thống sẵn sàng được tung vào chiến trường ở quy mô lớn.
Bài học từ băng keo và dây thun
"Có rất nhiều điều chúng ta học hỏi được từ Ukraine, nơi mà đôi khi họ phải dùng cả băng keo và dây thun để xoay xở", Brost nói. "Tôi nghĩ bản thân điều này đã là một bài học. Hãy dùng những gì hiệu quả và rẻ tiền".
"Không nên từ bỏ các loại vũ khí tinh vi mà Mỹ vốn ưa chuộng, nhưng chúng ta phải thực tế hơn. Chỉ cần tạo ra những thứ dùng được và đưa ngay cho binh sĩ, huấn luyện họ sử dụng, vì một giải pháp dù chỉ đạt 80% yêu cầu vẫn tốt hơn là không có gì", ông giải thích.
Nỗ lực chống drone, mảng hoạt động của Robin Radar, là một trong những lĩnh vực trọng yếu mà các đồng minh phương Tây đang học hỏi từ Ukraine. Họ giờ đây hiểu rằng cần tập trung vào các hệ thống rẻ hơn và có khả năng sản xuất hàng loạt, thay vì những khí tài tinh vi, đắt tiền, chỉ có thể xuất xưởng với số lượng nhỏ.
Chẳng hạn, Mỹ và các đồng minh đang ngày càng quan tâm đến những drone đánh chặn theo kiểu của Ukraine để đối phó với thiết bị bay đối phương, thay vì phụ thuộc vào những loại tên lửa phòng không đắt đỏ.
"Đây là lĩnh vực then chốt mà các công ty không nên chờ đợi đến lúc hoàn hảo", Brost nói. "Đặc biệt là khi đối mặt với một trong những lỗ hổng lớn nhất của quốc phòng Mỹ hiện nay. Chúng ta cần đưa khí tài ra thực địa dù chưa hoàn thiện, bởi chính chúng ta cũng có thể rút ra bài học từ đó".
Robin Radar vẫn sản xuất vũ khí hiện đại và hướng tới hiệu suất cao, nhưng cũng muốn có những hệ thống rẻ hơn, dễ nhân rộng và linh hoạt hơn so với khí tài truyền thống của phương Tây.
Brost cho rằng một số loại vũ khí phương Tây rất tuyệt vời, nhưng liệu chúng có trụ vững qua thời gian và có khả năng thích ứng linh hoạt hay không lại là câu chuyện khác.
Tốc độ hơn hoàn hảo
Ý kiến của ông cũng nhận được đồng tình từ các quan chức phương Tây và những công ty quốc phòng đang nghiên cứu về chiến trường Ukraine.
Tổng thư ký NATO Mark Rutte năm ngoái từng nhận định liên minh này đang đổi mới quá chậm chạp. "Một trong những vấn đề chúng ta gặp phải là cái tốt thường bị cái hoàn hảo cản trở. Chúng ta luôn yêu cầu mọi thứ phải thật hoàn hảo", ông nói. "Nhưng chúng không cần phải hoàn hảo đến vậy".
Rutte cho rằng liên minh phải học hỏi cách tiếp cận của Kiev. Theo ông, Ukraine sẵn sàng triển khai các khí tài chỉ đạt mức 6 hoặc 7 trên thang điểm 10, trong khi quân đội các nước trong liên minh luôn khăng khăng phải đạt mức 9 hoặc 10. Thời bình cho phép họ làm như vậy, nhưng giới lãnh đạo NATO đã cảnh báo hòa bình đang bị đe dọa.
"Tốc độ mới là yếu tố cốt lõi chứ không phải hoàn hảo", Tổng thư ký NATO khẳng định, đồng thời cho biết liên minh cần tập trung vào cả tốc độ lẫn chất lượng nhưng ở mức vừa đủ.
Agris Kipurs, giám đốc điều hành (CEO) Origin Robotics, công ty sản xuất drone của Latvia có sản phẩm đang được sử dụng tại Ukraine, từng cho biết binh sĩ Ukraine không quan tâm công nghệ tiên tiến đến mức nào, họ chỉ cần các hệ thống hoạt động ổn định và có sẵn với số lượng lớn.
"Họ cần những thứ chỉ đơn giản là dùng được", Kipurs nói. "Họ không bận tâm công nghệ nào tạo ra tính năng đó. Dù là mô hình AI, thuật toán thị giác máy tính hay đơn giản là một phi công giàu kinh nghiệm điều khiển hoàn toàn bằng tay, họ cũng không quan tâm".
Theo ông, một số cơ chế khuyến khích dành cho các công ty phương Tây đang đi chệch hướng, khi họ thường ưu tiên khí tài tối tân hoặc hào nhoáng hơn là những thứ thực sự thiết thực ngay lúc này.
Công ty của ông cũng không sản xuất những loại khí tài thô sơ. Họ thậm chí còn ứng dụng các công nghệ như AI. Tuy nhiên, họ tập trung vào những hệ thống đơn giản và rẻ tiền hơn so với các loại vũ khí truyền thống như tên lửa.
Kuldar Vaarsi, CEO công ty robot Milrem Robotics của Estonia với các sản phẩm đang được sử dụng ở Ukraine, nói rằng cuộc xung đột Nga - Ukraine đã cho thấy "tính đơn giản" là chìa khóa để chế tạo vũ khí nhanh hơn với chi phí rẻ hơn.
"Công nghệ càng phức tạp thì càng dễ phát sinh vấn đề", ông nói. "Trong xung đột, khí tài tin cậy mới là thứ cần thiết".
Ukraine cũng đưa ra những cảnh báo tương tự. Serhiy Goncharov, giám đốc điều hành Hiệp hội các ngành Công nghiệp Quốc phòng Quốc gia Ukraine, đại diện cho khoảng 100 công ty trong nước, nhấn mạnh trong một cuộc xung đột kéo dài, việc phương Tây tập trung vào số lượng ít khí tài tối tân không phải hướng tiếp cận đúng đắn. Thay vào đó, cần số lượng lớn các loại vũ khí ở mức "dùng tốt".
Ngành công nghiệp quốc phòng đang phát triển nhanh chóng của Ukraine có cách vận hành khác biệt so với phần lớn phương Tây. Hệ thống này gồm hàng loạt công ty, trong đó có nhiều cơ sở quy mô nhỏ sản xuất các sản phẩm được nâng cấp thần tốc, đôi khi chỉ tính bằng giờ hoặc bằng ngày, ngay sát chiến trường, dựa trên những góp ý trực tiếp từ binh sĩ.
Điều này giúp các công ty có thể bắt đầu với những thiết kế đơn giản rồi liên tục cập nhật dựa trên phản hồi từ những người sử dụng chúng trên chiến trường.
Lo ngại về tình hình an ninh, giới chức châu Âu đang thúc giục NATO tính toán lại cách thức mua sắm và phát triển vũ khí. Một trong những nhận thức quan trọng của họ là quân đội các nước phương Tây cần lượng lớn vũ khí giá rẻ và phải từ bỏ việc quá tập trung vào những hệ thống tối tân nhưng số lượng ít.
Các quan chức NATO cũng đã nêu lên vấn đề này, trong đó có Bộ trưởng Quốc phòng Đan Mạch Troels Lund Poulsen. Ông từng nói rằng "một trong những bài học" từ Ukraine là phương Tây cần lượng lớn vũ khí giá rẻ.
Điều này không đồng nghĩa rằng phương Tây sẽ không còn cần những loại vũ khí tối tân vốn là thế mạnh của họ. Tuy nhiên, trong một cuộc chiến quy mô lớn và kéo dài, các hệ thống như vậy có nguy cơ bị cạn kiệt và mất nhiều thời gian để thay thế, Poulsen nói.
Tin Gốc: Vnexpress

Nhận lời mời của Thủ tướng Cộng hòa Ấn Độ Narendra Modi, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm cấp Nhà nước tới Ấn Độ từ hôm nay (5.5) đến ngày 7.5. Chuyến thăm diễn ra giữa cột mốc quan trọng khi hai nước kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện (2016 - 2026).
Thiết lập quan hệ ngoại giao từ tháng 1.1972, Việt Nam và Ấn Độ có mối quan hệ hữu nghị truyền thống, gắn bó lâu đời, được các thế hệ lãnh đạo hai nước gìn giữ, vun đắp và liên tục phát triển. Suốt nhiều thập niên, hai nước hết lòng ủng hộ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây, cũng như trong sự nghiệp tái thiết đất nước, đổi mới và phát triển KT-XH ngày nay.
Hai nước ký "Tuyên bố chung về Khuôn khổ hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Ấn Độ bước vào thế kỷ 21" vào tháng 5.2003; thiết lập quan hệ lên "Đối tác chiến lược" vào tháng 7.2007, và tiếp tục nâng cấp thành "Đối tác chiến lược toàn diện" vào tháng 9.2016. Kể từ đó, quan hệ giữa hai nước ngày càng phát triển và đi vào chiều sâu. Quan hệ kênh Đảng, Nhà nước, Quốc hội và nhân dân hai nước được mở rộng; các cơ chế hợp tác đối thoại, tiểu ban hợp tác chuyên ngành... luôn được phát huy hiệu quả. Tháng 12.2020, hai nước thông qua Tuyên bố tầm nhìn chung Việt Nam - Ấn Độ về Hòa bình, Thịnh vượng và Người dân; và thông qua Tuyên bố chung về tăng cường quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Ấn Độ vào tháng 8.2024.
Chính sách Hướng Đông của Ấn Độ cũng khẳng định ASEAN đóng vai trò trung tâm của khu vực mà trong đó thì Việt Nam là đối tác ưu tiên của Ấn Độ ở khu vực. Từ năm 2014, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi cũng đã khẳng định Việt Nam là đối tác ưu tiên của New Delhi ở khu vực và "Ấn Độ cam kết hiện đại hóa các lực lượng quốc phòng và an ninh của Việt Nam".
Hai nước hiện duy trì các cơ chế hợp tác như: Ủy ban Hỗn hợp Việt Nam - Ấn Độ cấp Bộ trưởng Ngoại giao (cuộc họp lần thứ 18 vào tháng 10.2023); Tiểu ban Thương mại hỗn hợp Việt Nam - Ấn Độ (cuộc họp lần thứ 5 vào tháng 8.2023); Tham khảo chính trị và Đối thoại chiến lược; Đối thoại An ninh, Đối thoại Chính sách quốc phòng; Đối thoại Chính sách đối ngoại; Đối thoại An ninh biển…
Trả lời Thanh Niên hôm qua (4.5), TS Prakash Panneerselvam (Chương trình Nghiên cứu chiến lược và an ninh - Học viện quốc gia về nghiên cứu tiên tiến, Ấn Độ) đánh giá: "Chuyến thăm Ấn Độ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mang đến cơ hội quan trọng để củng cố hơn nữa quan hệ hai nước. Chuyến thăm diễn ra vào thời điểm có ý nghĩa, khi năm 2026 đánh dấu 10 năm kể từ khi hai nước nâng cấp quan hệ lên "Đối tác chiến lược toàn diện" vào năm 2016. Trong thập niên qua, hai nước đã tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, an ninh và chiến lược. Trong bối cảnh chính trị toàn cầu còn nhiều bất ổn và môi trường an ninh khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương ngày càng phức tạp, chuyến thăm này có thể tạo động lực mới cho quan hệ đối tác song phương và gắn kết hai nước hơn nữa.
Theo TS Satoru Nagao (Viện Nghiên cứu Hudson, Mỹ), quan hệ Việt - Ấn có sự gắn bó keo sơn suốt nhiều thập niên. Ông nhận xét: "Trong bối cảnh thế giới hiện nay, Việt Nam và Ấn Độ chia sẻ nhiều lợi ích chung. Trước hết và quan trọng nhất, hai nước có chung lợi ích an ninh lâu dài. Quan hệ thân thiết giữa Việt Nam và Ấn Độ bắt đầu từ cuối thập niên 1970 khi Việt Nam phải bảo vệ biên giới phía bắc và đối mặt nhiều khó khăn. Đến sau khi Liên Xô sụp đổ, Việt Nam và Ấn Độ càng có động lực hỗ trợ và hợp tác với nhau. Giờ đây, hai nước lại cùng nhau đối mặt một số thách thức mới ở khu vực. Giữa bối cảnh đó, việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm Ấn Độ lần này khi hai nước đánh dấu kỷ niệm 10 năm quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện (2016 - 2026), càng góp phần gắn kết quan hệ hai nước vì những lợi ích an ninh lâu dài như vậy".
Thứ hai, theo TS Nagao, Việt Nam và Ấn Độ đều theo định hướng tự chủ chiến lược. Ngay cả khi cạnh tranh giữa các cường quốc leo thang, Việt Nam và Ấn Độ đều hướng đến hợp tác đa phương để tối đa hóa lợi ích quốc gia. Cùng chia sẻ chính sách tương đồng, Việt Nam và Ấn Độ hợp tác với nhau.
"Thứ ba, với tư cách là đối tác hợp tác lâu dài, Việt Nam và Ấn Độ đang đàm phán các dự án chiến lược cố định, bao gồm cả các thỏa thuận quân sự có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hiện nay ở khu vực, nhất là trước các thách thức đang nổi lên", TS Nagao nhận định.
GS Stephen Robert Nagy (Đại học Cơ Đốc giáo quốc tế - Nhật Bản, học giả tại Viện Nghiên cứu các vấn đề quốc tế của Nhật) phân tích với Thanh Niên: "Việt Nam vẫn kiên định với chính sách ngoại giao dựa trên nguyên tắc làm bạn với tất cả các nước. Việt Nam luôn theo đuổi sự phát triển ổn định, thịnh vượng và hòa bình, nên cần vươn ra mọi hướng, trong đó có Ấn Độ với nền kinh tế năng động và đang phát triển mạnh mẽ cùng tầm ảnh hưởng ngày càng tăng trên chính trường thế giới".
"Chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có lẽ sẽ mở ra nhiều cơ hội hợp tác thương mại và kinh tế. Hai bên cũng có thể thảo luận các biện pháp nhằm tạo dựng sự ổn định trên thế giới đồng thời củng cố vị thế không liên kết của cả hai nước. Ấn Độ chia sẻ tầm nhìn của Việt Nam hiện nay và cũng hiểu rằng Việt Nam là cửa ngõ quan trọng vào ASEAN. Đây là yếu tố quan trọng trong chính sách "Hành động hướng Đông" của Thủ tướng Modi", vị chuyên gia khẳng định.
Cũng trả lời Thanh Niên, TS Dhruva Jaishankar (Giám đốc Quỹ Nghiên cứu quan sát (ORF) tại Mỹ, đánh giá: "Quan hệ Ấn Độ - Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là trong hợp tác thương mại và an ninh. Tuy nhiên, để bền vững, Ấn Độ sẽ tìm kiếm một nền thương mại cân bằng và bình đẳng hơn khi tham vọng công nghiệp của Ấn Độ ngày càng tăng. Về an ninh, hai nước vẫn có thể làm nhiều hơn nữa cùng nhau, đặc biệt là về an ninh hàng hải và tăng cường năng lực hải quân lẫn nhau".
Tin Gốc: Thanh Niên

Sau hơn hai năm xung đột lan rộng từ Gaza sang Lebanon rồi tới cuộc đối đầu trực tiếp giữa Mỹ, Israel với Iran, Trung Đông đã chứng kiến hàng loạt nỗ lực ngoại giao nhằm ngăn chiến sự vượt khỏi tầm kiểm soát. Các thỏa thuận ngừng bắn lần lượt được thiết lập, dấy lên hy vọng mang đến hòa bình cho khu vực.
Tuy nhiên, những gì diễn ra lại cho thấy một bức tranh khác, khi những cuộc không kích, tập kích, đấu hỏa lực vẫn diễn ra tại Gaza, Lebanon, miền nam Israel hay eo biển Hormuz.
Nghịch lý này phản ánh một thực tế mới của khu vực, khi ngừng bắn không còn chắc chắn đồng nghĩa với hòa bình. Theo một quan chức an ninh Trung Đông, khu vực này đang chứng kiến cách diễn giải linh hoạt hơn đối với các thỏa thuận ngừng bắn.
"Những cuộc không kích hạn chế, chiến dịch tấn công có mục tiêu và tiến quân trên bộ vẫn tiếp diễn, nhưng thỏa thuận ngừng bắn vẫn được duy trì về mặt hình thức. Các nỗ lực ngoại giao tập trung vào ngăn xung đột leo thang, thay vì chấm dứt hoàn toàn bạo lực", quan chức này nói với National.
Mỹ và Iran ngày 7/4 đạt thỏa thuận ngừng bắn để mở đường cho đàm phán, hướng đến một giải pháp hòa bình cho cuộc xung đột bùng phát từ cuối tháng 2. Tuy nhiên, hai bên sau đó vẫn tiếp tục đối đầu bằng những vụ phóng tên lửa, tập kích tàu thuyền, khiến nỗ lực ngoại giao có nguy cơ sụp đổ bất cứ lúc nào.
Mỹ vẫn ném bom vào cơ sở quân sự ở miền nam Iran, phóng tên lửa vào tàu thuyền tìm cách vượt vòng phong tỏa, trong khi Tehran đáp trả bằng cách tập kích tên lửa, UAV vào các căn cứ quân sự Mỹ và hạ tầng các nước vùng Vịnh. Tuy nhiên, hai bên đều tránh những hành động quân sự quy mô lớn có thể thổi bùng lửa xung đột.
Giới chức Mỹ cho rằng những hoạt động quân sự của Iran chỉ là "hỏa lực quấy rối ở mức thấp", chưa đến ngưỡng để tái khởi động chiến dịch tấn công. Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ Dan Caine nhấn mạnh "không đối thủ nào được nhầm lẫn sự kiềm chế hiện tại của Mỹ là thiếu quyết tâm".
Xung đột giữa Israel và Hezbollah bùng phát ngày 2/3, sau khi nhóm vũ trang tại Lebanon tấn công nước láng giềng để trả đũa cho cái chết của lãnh tụ tối cao Iran Ali Khamenei. Quân đội Israel sau đó phát động chiến dịch tấn công trên bộ vào Lebanon.
Israel và Lebanon đạt lệnh ngừng bắn từ giữa tháng 4, nhưng các cuộc đụng độ vẫn diễn ra. Hezbollah đã tăng cường dùng UAV tập kích các vị trí của Israel ở miền nam Lebanon và miền bắc nước láng giềng. Đáp lại, Israel mở rộng chiến dịch trên bộ, thọc sâu hơn vào lãnh thổ Lebanon.
Các cuộc giao tranh liên tục đã khiến hàng chục nghìn người ở cả hai bên biên giới chưa thể trở về nhà. Nhiều khu vực tại miền nam Lebanon vẫn nằm trong tình trạng sơ tán hoặc chịu thiệt hại nặng nề về cơ sở hạ tầng.
Tại Gaza, Israel tiếp tục duy trì các chiến dịch quân sự nhằm vào những mục tiêu mà nước này cho là thuộc Hamas hoặc các nhóm vũ trang đồng minh. Israel gần đây thông báo đã hạ sát Mohammed Odeh, một chỉ huy quân sự cấp cao của Hamas, chưa đầy hai tuần sau khi hạ sát người tiền nhiệm của ông.
Israel còn mở rộng kiểm soát tại một số khu vực chiến lược trong dải Gaza, đặc biệt là các hành lang an ninh và vùng đệm dọc biên giới. Quân đội Israel cho biết các hoạt động này nhằm ngăn Hamas tái tổ chức lực lượng và khôi phục năng lực chiến đấu.
Hamas vẫn tiến hành các cuộc phục kích ở quy mô hạn chế nhằm vào lực lượng Israel, cho thấy mạng lưới quân sự của nhóm này chưa bị vô hiệu hóa hoàn toàn.
Giới chức y tế Palestine cho biết hàng trăm người Palestine đã thiệt mạng kể từ khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực. Cuộc khủng hoảng nhân đạo cũng chưa được cải thiện đáng kể. Nhiều khu vực vẫn thiếu điện, nước sạch và dịch vụ y tế cơ bản, trong khi phần lớn dân số tiếp tục phụ thuộc vào viện trợ quốc tế.
Theo Foreign Policy, kể từ tháng 10/2023, Israel đã đạt ít nhất 7 lệnh ngừng bắn với các đối thủ, gồm ba lần tại Gaza, hai lần ở Lebanon và hai lần liên quan đến Iran. Việc giao tranh vẫn tiếp diễn sau những thỏa thuận này khiến các lệnh ngừng bắn như vậy "có cũng như không", theo Avishay Ben-Sasson-Gordis, nhà nghiên cứu tại Đại học Hebrew Jerusalem, và Simon Frankel Pratt, chuyên gia về khoa học chính trị Đại học Melbourne.
Tuy nhiên, hai chuyên gia cho rằng điều đó không đồng nghĩa chúng hoàn toàn thất bại. "Công chúng thường cho rằng lệnh ngừng bắn chỉ thành công nếu dẫn tới hòa bình lâu dài. Bất kỳ cuộc đấu hỏa lực nào xảy ra đều bị xem là bằng chứng cho thấy thỏa thuận đã thất bại", họ bình luận. "Thực tế ở Trung Đông cho thấy các lệnh ngừng bắn vẫn mang lại kết quả cụ thể".
Những lệnh ngừng bắn này đã tạo ra khoảng thời gian tạm lắng để giảm bớt tác động đối với dân thường. Trong các giai đoạn đình chiến trước đây tại Gaza, viện trợ nhân đạo được đưa vào nhiều hơn, người dân có cơ hội sơ tán và một số khu vực có điều kiện phục hồi tối thiểu. Các thỏa thuận cũng tạo điều kiện cho việc trao đổi con tin và tù nhân.
Ngoài khía cạnh nhân đạo, các khoảng lặng tạm thời còn mở ra cơ hội cho các cuộc đàm phán. Ngay cả khi không dẫn tới hòa bình cuối cùng, chúng vẫn có thể giúp các bên xây dựng những nền tảng thương lượng mới hoặc chuyển sang giai đoạn đàm phán khác.
Dù vậy, việc các lệnh ngừng bắn liên tục bị vi phạm cũng phản ánh một thực tế rằng nguyên nhân cốt lõi của các cuộc xung đột vẫn chưa được giải quyết.
Tại Gaza, Israel vẫn coi việc vô hiệu hóa Hamas là mục tiêu chiến lược quan trọng. Trong khi đó, Hamas chưa giải giáp và chưa có giải pháp rõ ràng cho việc quản lý dải Gaza sau chiến tranh.
Tại Lebanon, Hezbollah vẫn bị Israel coi là một mối đe dọa an ninh nghiêm trọng. Một nguồn tin an ninh Lebanon nói rằng lệnh ngừng bắn ngay từ đầu vốn đã rất mong manh và được thiết kế để quản lý xung đột hơn là chấm dứt nó.
Đối với Mỹ và Iran, hai bên đều có động lực để tránh một cuộc chiến kéo dài, nhưng vẫn tồn tại những bất đồng sâu sắc về chương trình hạt nhân, các biện pháp trừng phạt và cấu trúc an ninh khu vực.
Một quan chức Arab cho rằng Trung Đông đang bước vào thời kỳ chiến tranh kéo dài, bất kể Mỹ và Iran có đạt được thỏa thuận lớn hơn hay không. "Cái vòng luẩn quẩn đó sẽ tiếp tục. Đây là chiến tranh cường độ thấp", quan chức này nói.
Tin Gốc: Vnexpress

