Lần đầu tiên một doanh nghiệp sản xuất mua điện trực tiếp từ nhà cung ứng năng lượng tái tạo dù cách xa tới gần… 1.800km. Hợp đồng mua bán điện trực tiếp đầu tiên được kỳ vọng mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp được mua điện sạch mà không phải qua Tập đoàn Điện lực Việt Nam.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Nguyễn Quốc Trung – Phó tổng giám đốc Công ty TNHH MTV Vận hành hệ thống điện và thị trường điện quốc gia (NSMO) – cho rằng việc Samsung Thái Nguyên ký hợp đồng mua bán điện trực tiếp (DPPA) với Nhà máy điện mặt trời TTC Đức Huệ 2 tại Tây Ninh có ý nghĩa rất quan trọng.
Ông Trung nói: Đây không chỉ là giao dịch DPPA đầu tiên được đưa vào vận hành thực tế qua lưới điện quốc gia, mà còn cho thấy cơ chế mua bán điện trực tiếp đã chuyển từ giai đoạn xây dựng chính sách sang giai đoạn triển khai thương mại thực tế.
* Thưa ông, vì sao cơ chế DPPA đã được ban hành từ lâu nhưng đến nay mới có hợp đồng đầu tiên?
– DPPA là cơ chế mới, có tính phức tạp vì liên quan đồng thời đến pháp lý, hợp đồng, vận hành hệ thống điện, thị trường điện, đo đếm, thanh toán, hóa đơn – thuế và quản trị rủi ro giá. Với cơ chế này, các bên có thể mua bán điện trực tiếp qua lưới điện kết nối riêng hoặc lưới điện quốc gia.
Do đó, để có một giao dịch DPPA vận hành được, các bên không chỉ ký một hợp đồng thương mại song phương mà còn phải đáp ứng nhiều điều kiện. Như việc nhà máy cần đủ điều kiện tham gia thị trường điện. Hệ thống đo đếm điện năng, hệ thống điều khiển giám sát và thu thập dữ liệu (SCADA), dữ liệu vận hành và thanh toán cần sẵn sàng.
Khách hàng sử dụng điện là khách hàng lớn. Cả bên bán và bên mua cũng cần thống nhất cơ chế giá, sản lượng, xử lý chênh lệch, rủi ro biến động giá thị trường và nghĩa vụ thanh toán. Khó khăn lớn nhất là DPPA qua lưới điện quốc gia không phải là mô hình “truyền điện vật lý” từ nhà máy này đến khách hàng, mà là mô hình giao dịch thị trường kết hợp hợp đồng tài chính/kỳ hạn giữa bên mua và bên bán.
Vì vậy, các bên cần hiểu rõ thị trường cũng như các quy định về hóa đơn, thuế và chứng nhận điện xanh. Đây là lý do quá trình chuẩn bị mất nhiều thời gian.
* Vậy để đáp ứng được các điều kiện, NSMO đánh giá, thẩm định thế nào nhằm đảm bảo kỹ thuật và an toàn hệ thống?
– NSMO sẽ kiểm tra các điều kiện kỹ thuật tham gia thị trường điện và DPPA trên cơ sở hồ sơ, tài liệu, dữ liệu do đơn vị cung cấp. Đồng thời thông báo thời điểm chính thức vận hành cơ chế DPPA khi các điều kiện theo quy định được đáp ứng.
Như với trường hợp TTC Đức Huệ 2 – Samsung Thái Nguyên, thông tin công bố cho thấy NSMO đã kiểm tra, thẩm định hồ sơ và các điều kiện tham gia thị trường điện/DPPA trước khi thông báo nhà máy chính thức tham gia thị trường điện và vận hành DPPA từ ngày 1-6.
Tôi lưu ý rằng, yêu cầu kỹ thuật không phải là “ưu tiên đặc biệt” cho DPPA, mà là tuân thủ đầy đủ các quy định về vận hành thị trường điện. Như việc đo đếm, SCADA, dự báo, khả dụng, công bố thông tin, điều độ và thanh toán.
Nhà máy tham gia DPPA vẫn cần tuân thủ lệnh điều độ, quy định an toàn hệ thống điện, quy định về thị trường điện và các ràng buộc vận hành như các đơn vị phát điện khác. Vì thế, DPPA không làm phát sinh quyền ưu tiên huy động riêng ngoài quy định.
* Ông nhận định như thế nào về tiềm năng mở rộng DPPA và khả năng áp dụng cho điện khí/LNG?
– Tiềm năng mở rộng DPPA là rất lớn, đặc biệt đối với nhóm khách hàng sử dụng điện lớn, doanh nghiệp FDI, khu công nghiệp, doanh nghiệp xuất khẩu, các tập đoàn có cam kết ESG, Net Zero hoặc cần chứng minh tỉ lệ sử dụng năng lượng tái tạo trong chuỗi cung ứng.
Hợp đồng đầu tiên của Samsung là tín hiệu quan trọng cho thấy các khách hàng lớn có thể thực hiện giao dịch điện tái tạo thông qua cơ chế thị trường, không chỉ thông qua điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu.
Tuy nhiên, theo khung pháp lý hiện hành, DPPA được thiết kế cho đơn vị phát điện năng lượng tái tạo và khách hàng sử dụng điện lớn. Vì vậy, việc mở rộng sang điện khí hoặc LNG không nên hiểu là mở rộng cơ chế “DPPA xanh” theo đúng nghĩa hiện nay.
Điện khí/LNG có thể phù hợp hơn với các cơ chế hợp đồng dài hạn, hợp đồng kỳ hạn điện, hợp đồng chênh lệch hoặc cơ chế bảo đảm công suất/độ tin cậy trong thị trường điện, nhưng cần một khung chính sách riêng nếu muốn áp dụng mô hình mua bán trực tiếp.
* Theo ông, cần tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn gì để mở rộng thêm khách hàng tham gia DPPA?
– Nghị định số 57 của Chính phủ về cơ chế DPPA đã tạo hành lang pháp lý chính thức cho cơ chế DPPA giữa đơn vị phát điện năng lượng tái tạo và khách hàng sử dụng điện lớn. Đây là nền tảng rất quan trọng để DPPA có thể triển khai trên thực tế.
Song thực tiễn cho thấy DPPA phát sinh một số điểm cần tiếp tục tháo gỡ. Vấn đề này đã được Bộ Công Thương sơ kết, đánh giá, tổng hợp kiến nghị từ các đơn vị, địa phương để sửa đổi các quy định cho phù hợp thực tiễn. Theo đó, một số thay đổi đáng chú ý gồm: mở rộng đối tượng tham gia DPPA, bổ sung nhóm khách hàng như đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu/cụm, trung tâm dữ liệu, trạm/trụ sạc điện, tủ đổi pin xe điện…
Đồng thời hoàn thiện các khái niệm liên quan đến điện mặt trời mái nhà, lưới điện kết nối riêng, sản lượng điện dư… Dự thảo cũng hướng tới việc đơn giản hóa thủ tục đăng ký, cho phép các bên ủy quyền cho một đơn vị đại diện gửi hồ sơ. Đối với mô hình qua lưới điện kết nối riêng, cần điều chỉnh linh hoạt hơn, như nâng tỉ lệ sản lượng điện dư được bán lên hệ thống và bổ sung yêu cầu kỹ thuật để bảo đảm vận hành an toàn.
Tôi tin rằng khi nghị định 57 sửa đổi được ban hành, các vướng mắc sẽ được tháo gỡ đáng kể, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các đơn vị phát điện năng lượng tái tạo, khách hàng sử dụng điện lớn và đơn vị bán lẻ điện tham gia DPPA.
Khi chính sách được hoàn thiện, NSMO sẽ tiếp tục phối hợp với các bên liên quan để chuẩn hóa quy trình đăng ký, kiểm tra điều kiện tham gia thị trường điện, dữ liệu đo đếm, đối soát, thanh toán và vận hành thị trường điện giao ngay…
Để hiện thực hóa mục tiêu này, nhiều chuyên gia cho rằng Việt Nam không thể tiếp tục đi theo lối cũ mà cần thay đổi mô hình tăng trưởng, tháo gỡ các điểm nghẽn về nguyên liệu, lao động, tín dụng và nâng chất lượng sản phẩm.
Không chỉ tăng sản lượng, phải nâng giá trị nông sản
Tại tọa đàm “Làm gì để xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD?” do Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ tổ chức sáng 9/7, ông Đặng Kim Sơn - nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn - cho rằng, xuất khẩu nông sản có vai trò đặc biệt đối với nền kinh tế Việt Nam.
Từ một quốc gia nhập khẩu lương thực, Việt Nam đã trở thành một trong những cường quốc xuất khẩu nông sản, góp phần cân bằng thương mại, ổn định kinh tế vĩ mô và tạo sinh kế cho hàng triệu hộ nông dân.
Năm 2025, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt khoảng 70 tỷ USD, trong đó xuất siêu khoảng 20 tỷ USD. Theo ông Sơn, đây không chỉ là con số về thương mại mà còn là nguồn thu nhập trực tiếp đến với người dân nông thôn, góp phần giảm nghèo và bảo đảm an ninh lương thực.
Tuy nhiên, dư địa tăng trưởng vẫn còn rất lớn nếu ngành nông nghiệp chuyển từ tư duy bán nguyên liệu sang bán giá trị. Bên cạnh giá trị dinh dưỡng, nông sản Việt Nam cần được gia tăng giá trị bằng câu chuyện văn hóa, lịch sử, tiêu chuẩn xanh, chế biến sâu, tận dụng phụ phẩm và phát triển kinh tế tuần hoàn.
Ông Sơn cho rằng điều quan trọng nhất là tháo gỡ các rào cản để hàng triệu hộ nông dân nhỏ lẻ liên kết với nhau, tham gia chuỗi giá trị và tiếp cận trực tiếp thị trường quốc tế. Khi thị trường vận hành hiệu quả, khoa học công nghệ, vốn đầu tư và thương hiệu sẽ phát huy vai trò nâng giá trị nông sản.
Ở góc độ doanh nghiệp xuất khẩu, ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), cho rằng mục tiêu 100 tỷ USD chỉ còn khoảng 500 ngày để thực hiện, cũng là áp lực lớn cho toàn ngành.
Theo ông Nam, cần thành lập một ban chỉ đạo quy mô quốc gia do Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, kết nối các hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp và địa phương để triển khai một chương trình hành động thống nhất, rà soát toàn bộ dư địa về thị trường, thể chế và thực thi.
Theo đại diện VASEP, ba “điểm nghẽn” lớn nhất hiện nay của ngành nông nghiệp gồm nguồn nguyên liệu, thiếu lao động và nguồn vốn tín dụng. Theo đó, muốn tăng mạnh kim ngạch xuất khẩu, doanh nghiệp phải có đủ nguồn nguyên liệu trong nước cũng như chủ động khai thác nguồn nguyên liệu toàn cầu để phục vụ chế biến.
Ngành thủy sản cũng đang thiếu nhân công nghiêm trọng trong khi nhiều địa phương vẫn đẩy mạnh xuất khẩu lao động, khiến doanh nghiệp khó mở rộng sản xuất để đáp ứng đơn hàng.
Cuối cùng, theo ông Nam, nếu muốn nâng kim ngạch xuất khẩu thêm hàng chục tỷ USD thì quy mô tín dụng cũng phải thay đổi tương ứng, thay vì vẫn áp dụng cách tiếp cận như hiện nay.
Còn theo ông Nguyễn Thanh Bình - Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, mục tiêu tăng thêm gần 30 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu là thách thức rất lớn, đòi hỏi sự điều phối thống nhất từ Trung ương đến địa phương.
Theo ông Bình, điểm yếu lớn nhất hiện nay là sản xuất vẫn mang tính nhỏ lẻ, phụ thuộc tập quán canh tác cũ, khiến đất đai bị suy thoái, tồn dư kim loại nặng và thuốc bảo vệ thực vật, làm giảm khả năng đáp ứng tiêu chuẩn của các thị trường nhập khẩu.
Ngoài ra, năng lực kiểm nghiệm, kiểm dịch còn hạn chế khiến nhiều lô hàng, đặc biệt là trái cây xuất khẩu sang Trung Quốc, phải chờ thông quan kéo dài. Ông đề xuất đẩy nhanh số hóa hoạt động kiểm dịch, kết nối dữ liệu với cơ quan hải quan Trung Quốc và mở rộng hệ thống kiểm định ngay tại vùng nguyên liệu để rút ngắn thời gian thông quan.
Về lâu dài, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam cho rằng ngành nông nghiệp cần chuyển mạnh từ tư duy chạy theo sản lượng sang lấy chất lượng và an toàn thực phẩm làm trung tâm.
“Cần tập trung đầu tư vào những ngành hàng có lợi thế và còn nhiều dư địa như gạo, cà phê, trái cây và thủy sản, đồng thời đẩy nhanh việc cấp mã số vùng trồng để mở rộng xuất khẩu sang các thị trường lớn như Trung Quốc”, ông Bình nhấn mạnh.
Nhà máy của Công ty TNHH Nước giải khát Suntory PepsiCo Việt Nam đặt tại khu công nghiệp Hựu Thạnh, xã Đức Hòa, có công suất thiết kế 1,244 tỷ lít/năm, đồng thời tạo ra khoảng 3.000 việc làm trong toàn chuỗi cung ứng.
Đây là nhà máy hiện đại nhất của đơn vị tại Việt Nam được thiết kế theo hướng tự động hóa cao, tích hợp liền mạch từ xử lý nguyên liệu, đóng gói, lưu kho đến logistics. Nhà máy ứng dụng hệ thống quản lý tiện ích thông minh, dây chuyền đóng gói tốc độ cao và kho tự động hoàn toàn với công nghệ robot.
Năng lực sản xuất của nhà máy thuộc nhóm tiên tiến hàng đầu trong khu vực, trong đó, dây chuyền lon vận hành với tốc độ lên tới 120.000 lon mỗi giờ và dây chuyền PET đạt 84.000 chai mỗi giờ.
Nhà máy cũng sở hữu kho tự động hoàn toàn đầu tiên của Suntory PepsiCo khu vực châu Á. Rộng 15.000 m2, kho tự động có sức chứa 43.000 pallet với các hệ thống robot tự động lưu trữ, xuất nhập và vận chuyển hàng hóa theo dữ liệu thời gian thực, tăng hiệu quả vận hành, an toàn lao động và tối ưu khả năng đáp ứng linh hoạt của chuỗi cung ứng.
Nhà máy cũng tăng cường sử dụng điện tái tạo thông qua hệ thống điện mặt trời áp mái, tổng diện tích lắp đặt 22.365 m2.
Ông Lê Văn Hẳn, Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh, đánh giá dự án không chỉ có quy mô lớn mà còn là điển hình về ứng dụng công nghệ tiên tiến và phát triển bền vững.
Sự hiện diện của nhà máy Suntory PepsiCo góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ, hình thành hệ sinh thái công nghiệp hiện đại, tạo động lực cho tiến trình chuyển đổi số, ứng dụng, chuyển giao phát triển khoa học công nghệ trên địa bàn tỉnh.
"Dự án còn giải quyết việc làm, đào tạo lao động có tay nghề cao, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cải thiện đời sống người dân địa phương", ông Hẳn nói.
Tôi đồng tình với ý kiến của ông Ju Liang ở Đại học Vân Nam trong bài "Kho lạnh bảo vệ nông dân" (Tuổi Trẻ ngày 27-4), thủ phạm lại là một mắt xích tưởng khô khan: kho lạnh tại nguồn.
Nông sản Việt Nam có một nghịch lý đau lòng. Chúng ta đứng hàng đầu thế giới về xuất khẩu thanh long, sầu riêng, cà phê, hồ tiêu; xuất khẩu rau quả năm 2025 đạt khoảng 8,5 tỉ USD.
Nhưng giá trị thu về mỗi ha canh tác vẫn thấp hơn Thái Lan, thua xa Chile hay New Zealand ở cùng nhóm sản phẩm. Vì sao? Phần lớn câu trả lời nằm ở 24 giờ đầu tiên sau thu hoạch - khoảng thời gian mà trái cây, rau củ bắt đầu "chết" sinh học nếu không được hạ nhiệt kịp thời.
Con số gây sốc: tỉ lệ tổn thất sau thu hoạch của ngành rau quả Việt Nam ở mức 20 - 40% tùy mặt hàng, theo báo cáo của Hiệp hội Rau quả Việt Nam tại Hội nghị xúc tiến thương mại tháng 6-2025. Tính ra thiệt hại kinh tế lên tới 3,5 - 4,1 tỉ USD mỗi năm - một khoản "thuế tàng hình" mà ngành nông nghiệp đang âm thầm trả.
Trong khi đó toàn quốc hiện chỉ có khoảng 117 kho lạnh chuyên nghiệp. Tới 90% trong số đó phục vụ đông lạnh sâu cho thủy sản và thịt. Kho mát chuyên dụng (0 - 15oC) cho trái cây tươi - vốn là trái tim của chuỗi giá trị nông sản xuất khẩu - gần như là khoảng trống trên bản đồ hạ tầng.
Hệ quả là người nông dân buộc phải bán ngay, bán vội. Mỗi đợt "được mùa rớt giá" lại có kêu gọi "giải cứu". Nhưng "giải cứu" là dấu hiệu của một chuỗi cung ứng không có vùng đệm.
Trong kinh tế học vận trù, kho lạnh cho phép nông dân và hợp tác xã giữ hàng lại 3 - 7 ngày - đủ để thương lượng, đủ để đón sóng giá, khớp đơn xuất khẩu. Không có vùng đệm, bên bán mất quyền thương lượng. Đó là "lời nguyền vỉa hè": nông sản chín cây, đồng hồ sinh học đếm ngược từng giờ, và người mua nắm thế thượng phong.
Bài học từ Chile và Nam Phi về táo, nho và cam rất đáng suy ngẫm. Họ không xuất khẩu theo mùa vụ tự nhiên. Họ xuất khẩu theo nhịp điệu do chính họ thiết kế, nhờ hệ thống kho lạnh điều tiết từ trang trại ra cảng. Khi người bán kiểm soát được nhịp độ, quyền định giá tự khắc chuyển dịch.
Thái Lan không vượt Việt Nam về diện tích canh tác trái cây, nhưng vượt xa về giá trị xuất khẩu trên mỗi tấn. Bí quyết nằm ở mô hình các trạm sơ chế và kho mát đặt ngay tại vùng trồng.
Sầu riêng Monthong hái xong được đưa vào buồng tiền làm lạnh trong vài giờ rồi phân loại theo chuẩn xuất khẩu tại chỗ. Chuỗi này không chỉ giữ được phẩm cấp mà còn cho phép Thái Lan truy xuất nguồn gốc đến từng lô hàng - điều kiện sống còn để chinh phục các thị trường khắt khe.
Ấn Độ theo hướng khác. Chương trình Mega Food Parks và các gói tín dụng thuộc Bộ Công nghiệp chế biến thực phẩm hỗ trợ 35 - 50% chi phí đầu tư hạ tầng chuỗi lạnh cho doanh nghiệp nội.
Với vùng như đông bắc Ấn và vùng xa, mức hỗ trợ có thể tới 75%. Cơ chế rõ ràng: Nhà nước không làm kho, nhưng "kích" dòng vốn tư nhân chảy vào khu vực nông thôn - nơi vốn không đủ hấp dẫn với logic thị trường thuần túy.
Trung Quốc thì đi xa hơn nữa. Chỉ riêng một huyện Chu Chí (Thiểm Tây) đã có tới 3.000 kho lạnh phục vụ vùng táo - nhiều hơn tổng số kho lạnh chuyên nghiệp của cả Việt Nam gấp hàng chục lần.
Thứ nhất, Việt Nam cần quy hoạch quỹ đất logistics chuyên biệt tại các vùng trồng trọng điểm - Đồng bằng sông Cửu Long cho trái cây, Tây Nguyên cho cà phê và bơ, Đông Nam Bộ cho rau quả xuất khẩu. Đất cho kho lạnh phải nằm trong quy hoạch hạ tầng nông nghiệp - logistics tích hợp, không bị đẩy sang nhóm "đất thương mại dịch vụ" với giá thuê phi lý khiến bài toán đầu tư vỡ trận ngay từ đầu.
Thứ hai, và là sống còn nhất: giá điện. Kho lạnh tiêu thụ điện gấp 4 - 6 lần kho thường trên cùng diện tích. Nếu ngành sản xuất có giá điện ưu đãi, không có lý do gì hạ tầng cold chain phục vụ nông nghiệp - ngành trực tiếp tạo sinh kế cho hơn 30 triệu người - lại bị áp giá điện kinh doanh. Đây là sự công bằng chính sách.
Thứ ba, tiếp cận vốn. Một gói tín dụng chuyên biệt cho hạ tầng chuỗi lạnh, với lãi suất và thời hạn phù hợp chu kỳ hoàn vốn 7 - 10 năm, hoàn toàn khả thi nếu có sự phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Phát triển Việt Nam và các ngân hàng thương mại. Mô hình bảo lãnh tín dụng qua Quỹ Bảo lãnh doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể được sử dụng.
Mất một vụ mùa, nông dân thiệt một năm. Mất một thập kỷ không đầu tư kho lạnh tại nguồn, ngành nông sản Việt mất quyền định giá cả một thế hệ. Với 3,5 - 4,1 tỉ USD tổn thất mỗi năm, chúng ta đang trả cho sự trì hoãn một cái giá đủ để xây dựng một hệ thống kho lạnh tại nguồn hoàn chỉnh trên cả nước chỉ trong vòng 5 năm.