Theo số liệu mới công bố của Bộ GD-ĐT, năm 2026 có trên 874.000 thí sinh (TS) đăng ký xét tuyển ĐH với hơn 7,18 triệu nguyện vọng (NV), trong đó 467.590 TS (53,4%) đăng ký vào các ngành STEM (khoa học – công nghệ – kỹ thuật – toán học) với 2.368.179 NV (gần 33%).
Đối với 15 nhóm ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược thuộc Nghị định số 179/2026, có 331.693 TS đăng ký, tương đương gần 38% tổng số TS đăng ký xét tuyển. Số NV vào các nhóm ngành này là 1.291.839, chiếm khoảng 18% tổng NV.
Trong khi đó, năm 2025, tổng số TS đăng ký xét tuyển ĐH cũng xấp xỉ năm nay (gần 850.000) nhưng số lượng đăng ký vào các ngành STEM chỉ khoảng 222.454 (chiếm khoảng 26%), còn năm 2024 là 180.573 TS (chiếm khoảng 24,6%).
Như vậy, năm nay tỷ lệ TS lựa chọn xét tuyển vào ngành STEM tăng gấp đôi năm trước, với hơn một nửa số TS đăng ký xét tuyển có ít nhất một lựa chọn thuộc STEM và hơn 1/3 có lựa chọn thuộc 15 nhóm ngành được nhà nước xác định cần ưu tiên phát triển.
Theo Giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục ĐH, đây là một trong những điểm nổi bật của đăng ký xét tuyển năm 2026, cho thấy nhận thức của TS và phụ huynh về vai trò của KH-CN, kỹ thuật và toán học đang có chuyển biến. “Các chính sách học bổng, hỗ trợ người học; triển vọng nghề nghiệp; nhu cầu nhân lực và công tác hướng nghiệp đã góp phần tạo thêm động lực lựa chọn”, ông Thảo nhận định.
Tiến sĩ Nguyễn Trung Nhân, Trưởng phòng Đào tạo Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM, cũng cho rằng năm nay số lượng TS đăng ký vào các ngành STEM tăng vọt là tín hiệu vô cùng khả quan. Điều này cho thấy TS và phụ huynh rất nhạy bén, kịp thời nắm bắt định hướng phát triển KH-CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của đất nước. “Đặc biệt là sự tác động của chính sách tới sự lựa chọn của TS. Cụ thể, Nghị định 179 của Chính phủ quy định chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược, chắc chắn là yếu tố hấp dẫn TS”, tiến sĩ Nhân nhận định, đồng thời cho hay: “Đây cũng là tín hiệu đáng mừng đối với các chương trình tài năng STEM nếu như ngày càng nhiều em giỏi lựa chọn lĩnh vực này”.
Giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Minh Hà, Hiệu trưởng Trường ĐH Mở TP.HCM, thông tin nhóm TS giỏi chọn các ngành STEM đang tăng lên rõ rệt, đặc biệt là các ngành liên quan đến công nghệ số như trí tuệ nhân tạo (AI), khoa học dữ liệu, khoa học máy tính, công nghệ thông tin, an ninh mạng và logistics thông minh. Điều này cho thấy STEM không còn là lựa chọn của một nhóm nhỏ người học mà đang trở thành xu hướng phát triển nghề nghiệp được nhiều TS có năng lực tốt quan tâm.
“Xu hướng TS giỏi quan tâm đến khối ngành thuộc STEM đang tăng rất mạnh. Các em nhận thức được đây là xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu tư toàn cầu vào VN. Tuy nhiên, sự quan tâm này vẫn bị lệch khi các em đổ xô vào các ngành bề nổi mang tính ứng dụng ngắn hạn, trong khi các ngành khoa học cơ bản và công nghệ số lõi đòi hỏi nghiên cứu sâu, toán học nặng lại chưa thực sự thu hút được nhóm xuất sắc nhất”, tiến sĩ Thân Thanh Sơn, Trưởng ban Đào tạo ĐH Công nghiệp Hà Nội, đánh giá.
Đến thời điểm này có đến 90% cơ sở giáo dục ĐH tham gia đào tạo các ngành STEM. Tuy số lượng người học tăng theo từng năm nhưng tỷ lệ sinh viên học STEM ở VN vẫn chỉ từ 27 – 31% trong tổng số quy mô, thấp hơn nhiều nước trong khu vực và thế giới như Singapore (46%), Malaysia (50%), Hàn Quốc (35%), Đức (39%)…
Trong khi đó, đề án đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển công nghệ cao giai đoạn 2025 – 2035 và định hướng tới năm 2045 được Chính phủ phê duyệt đặt mục tiêu giai đoạn 2030 – 2035 tỷ lệ người theo học các ngành STEM đạt 40% ở mỗi trình độ đào tạo, trong đó ít nhất 3% thuộc các ngành khoa học cơ bản và 20% thuộc các ngành liên quan tới công nghệ số.
Theo Giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Trung Nhân, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia TP.HCM), để thực hiện hiệu quả đề án này, cần thay đổi và linh hoạt các cơ chế quản lý giáo dục về ngành, nhóm ngành, chỉ tiêu tuyển sinh để tăng số lượng người học vì hiện nay đang còn nhiều ràng buộc. “Bên cạnh các chính sách học bổng cho người học hiện nay thì các chế độ hỗ trợ tài chính cho các hoạt động trao đổi doanh nghiệp, trao đổi giao lưu học thuật giữa các nước cần được đầu tư. Chúng ta cần kết hợp “3 nhà” tạo ra một hệ sinh thái khoa học để người học được trải nghiệm. Ngoài ra, nhà nước cần đầu tư cơ sở vật chất hiện đại cho việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học của nhóm STEM”, Giáo sư Nhân đề xuất.
Ông Nguyễn Minh Hà cũng cho rằng để nâng tỷ lệ người học STEM lên 40% ở mỗi trình độ đào tạo, học bổng là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Điều quan trọng hơn là phải xây dựng được một hệ sinh thái phát triển tài năng toàn diện, trong đó người học nhìn thấy lộ trình nghề nghiệp rõ ràng, được học trong môi trường đạt chuẩn quốc tế, được tham gia nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, tiếp cận doanh nghiệp và các dự án công nghệ thực tiễn ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường cũng như nhìn thấy triển vọng phát triển nghề nghiệp và đóng góp cho sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên số.
“Học bổng vật chất chỉ là điều kiện cần giúp các em yên tâm học tập. Để tạo cú hích khiến người giỏi sẵn sàng dấn thân vào khoa học cơ bản và công nghệ số, chúng ta cần 3 yếu tố. Thứ nhất là cam kết về đầu ra và lộ trình nghề nghiệp đỉnh cao: Người giỏi cần được đảm bảo sau khi tốt nghiệp sẽ được đón nhận vào các viện nghiên cứu, các trung tâm R&D của tập đoàn đa quốc gia hoặc vị trí then chốt trong bộ máy nhà nước với mức thu nhập và đãi ngộ xứng đáng, thay vì loay hoay tự tìm việc”, tiến sĩ Thân Thanh Sơn nêu quan điểm.
Yếu tố thứ hai, theo tiến sĩ Sơn là kiến tạo môi trường học thuật đáng sống. Theo đó, người tài cần một không gian học thuật đủ lớn để phát huy tối đa năng lực. Đó phải là một hệ sinh thái tự do sáng tạo, nơi người học được làm việc cùng những chuyên gia, giáo sư giỏi nhất; được khuyến khích thử nghiệm trên các hệ thống thiết bị hiện đại mà không bị rào cản bởi các thủ tục hành chính. Bên cạnh đó, môi trường này cần tích hợp các chương trình trao đổi quốc tế, cơ hội thực chiến qua dự án của doanh nghiệp và cơ chế hỗ trợ công bố khoa học trên các tạp chí uy tín.
Thứ ba là cần truyền thông định hướng và khơi dậy lòng tự tôn dân tộc, làm các em hiểu rằng việc theo đuổi khoa học cơ bản hay công nghệ số không chỉ dừng lại ở câu chuyện mưu sinh, mà chính là chìa khóa để đưa VN thoát bẫy thu nhập trung bình, bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Tin Gốc: Thanh Niên




