Được đặt trong một hộp tam giác nhỏ gọn trước giờ phóng, bốn “bản sao” với kích thước chỉ bằng USB của chính các phi hành gia đã đồng hành cùng chuyến bay lịch sử của Artemis 2. Tuy nhiên, theo nhiều khía cạnh, hành trình thực sự của chúng mới chỉ bắt đầu, theo Đài CNN hôm 10.4.
Các bản sao trên thực tế là những thiết bị vi lỏng chứa mô tủy xương nuôi cấy từ tế bào của các nhà du hành vũ trụ Reid Wiseman, Victor Glover và Christina Koch thuộc Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA), và đồng nghiệp Canada Jeremy Hansen.
Giới nghiên cứu cho rằng cuộc thí nghiệm sẽ sớm mang lại những hiểu biết chưa từng có về tác động của môi trường không gian đối với sức khỏe con người.
Được đặt tên là AVATAR, cuộc nghiên cứu cho phép các nhà khoa học mô phỏng phản ứng của các cơ quan bên trong cơ thể phi hành gia trong điều kiện không gian sâu.
Bà Lisa Carnell, Giám đốc bộ phận Khoa học Sinh học và Vật lý của NASA, giải thích AVATAR cung cấp cái nhìn chi tiết hơn so với biện pháp xét nghiệm y tế truyền thống về thời điểm và vị trí những thay đổi sinh học bắt đầu xảy ra.
“Chúng tôi chưa từng làm điều này trước đây”, bà nói.
Do các nhà nghiên cứu chọn tập trung vào tủy xương trong thí nghiệm lần này, bà Carnell kỳ vọng thu thập dữ liệu về phản ứng miễn dịch của phi hành đoàn khi tiếp xúc với môi trường bức xạ cao trong không gian sâu.
Những thông tin thu hoạch được có thể giúp phát triển các phương pháp điều trị theo hướng cá nhân hóa, hỗ trợ phi hành gia trong các sứ mệnh dài ngày, và thậm chí xa hơn nữa trong vũ trụ.
“Khi chúng tôi gửi các phiên bản mini bên cạnh các nhà du hành vũ trụ Christina, Victor, Reid, Jeremy, chúng đều có thể phản ứng khác nhau trong môi trường bức xạ không gian sâu”, theo bà Carnell, thêm rằng có người sẽ đề kháng tốt, có người lại nhạy cảm hơn.
Thông qua những gì thu thập được từ cuộc thí nghiệm, NASA kỳ vọng tạo ra những bộ dụng cụ y tế “thiết kế riêng” cho từng cá nhân trong hành trình khám phá mặt trăng hoặc cuộc du hành đến sao Hỏa.
Mục tiêu về dài hạn là gửi các “avatar sinh học” vào không gian trước các chuyến đi, nhằm dự đoán nguy cơ cho sức khỏe và giúp phi hành đoàn chuẩn bị từ sớm cho các sứ mệnh dài hạn.
Bộ Quốc phòng Anh ngày 15/4 công bố đợt cung cấp thiết bị bay không người lái (drone) "lớn nhất từ trước đến nay" cho Ukraine, trong đó London sẽ chuyển giao ít nhất 120.000 thiết bị cho Kiev trong năm 2026. Cơ quan này khẳng định đợt cung cấp sẽ thúc đẩy tăng trưởng và tạo việc làm trên khắp nước Anh.
Trong lô vũ khí có hàng nghìn drone tấn công tầm xa, drone trinh sát, hậu cần và khí tài hàng hải, tất cả "đều đã được thử lửa trên tiền tuyến tại Ukraine". Hoạt động chuyển giao đã bắt đầu trong tháng 4.
"Sự bổ sung lớn về drone đã qua thực chiến sẽ cung cấp cho Ukraine năng lực cần thiết để bảo vệ người dân và đối phó lực lượng Nga", Bộ trưởng Quốc phòng Anh John Healey cho biết. Ông tuyên bố cũng không gì có thể khiến Anh xao nhãng khỏi "nỗ lực sát cánh cùng Ukraine đến khi đạt được hòa bình", dù Trung Đông đang là tâm điểm chú ý những tuần gần đây.
Trong hội nghị của Nhóm Liên lạc Quốc phòng Ukraine (UDCG) diễn ra ở Đức cùng ngày, Bộ trưởng Healey thông báo Anh cũng sẽ cung cấp hàng trăm nghìn quả đạn pháo và hàng nghìn tên lửa phòng không cho Ukraine.
Bộ trưởng Quốc phòng Mykhailo Fedorov tiết lộ drone hiện được sử dụng trong phần lớn các cuộc phản công của Ukraine, đóng vai trò quan trọng đối với cả tiền tuyến lẫn những cuộc tập kích nhằm vào mục tiêu ở sau phòng tuyến đối phương.
Bộ trưởng Fedorov đề cập đến thông tin do Tổng thống Volodymyr Zelensky đưa ra hôm 14/4, trong đó ông tuyên bố Ukraine đã "lần đầu trong lịch sử" chiếm được vị trí Nga chỉ bằng drone mặt đất và trên không, hoàn toàn không triển khai bộ binh.
Theo quan chức Ukraine, Kiev đang tăng cường hoạt động sản xuất drone ở trong nước và đẩy nhanh chuyển giao sản phẩm cho binh sĩ ở tiền tuyến.
Tổng thư ký NATO Mark Rutte lưu ý rằng hỗ trợ cho Ukraine giờ không còn mang tính một chiều. Kiến thức của Kiev về sử dụng, đối phó drone hiện được chia sẻ lại cho NATO và liên minh đang học hỏi trực tiếp từ kinh nghiệm thực chiến.
Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) trong những ngày qua đã xây dựng kế hoạch sơ tán các tàu thương mại và thủy thủ đoàn đang bị mắc kẹt ở vùng Vịnh do chiến sự Iran. Natasha Brown, người phát ngôn của IMO, ngày 24/4 nói với báo Izvestia của Nga rằng 40 quốc gia thành viên đã tán thành kế hoạch này.
Brown cho biết IMO sẽ lập danh sách các tàu cần rời khỏi khu vực và điều phối quá trình sơ tán. Theo IMO, kế hoạch sơ tán này không có bất cứ biện pháp cưỡng chế nào, hoàn toàn mang tính chất phối hợp.
Tổng Thư ký IMO Arsenio Dominguez hôm 21/4 nói rằng kế hoạch này tập trung vào việc thiết lập một "hành lang hàng hải an toàn", ưu tiên sơ tán khoảng 800 tàu đang mắc kẹt do eo biển Hormuz bị phong tỏa. Các tàu sẽ rời đi theo một trình tự có tổ chức, một phần dựa trên khoảng thời gian mà các thủy thủ đoàn đã bị mắc kẹt.
Ông Dominguez tuyên bố chiến dịch sơ tán chỉ có thể được tiến hành nếu xung đột hạ nhiệt và khu vực này được xác nhận là an toàn, đặc biệt là không còn các mối đe dọa như thủy lôi.
Tổng Thư ký IMO cho hay khoảng 20.000 thủy thủ đã mắc kẹt ở vùng Vịnh kể từ khi nổ ra xung đột Mỹ - Israel với Iran và chưa biết khi nào có thể về nhà. Các chuyên gia tin rằng cơ chế sơ tán tàu và thủy thủ đoàn chỉ có thể hiệu quả khi có dấu hiệu giảm leo thang, đảm bảo an toàn hàng hải.
Theo bà Brown, mục tiêu của IMO là đảm bảo cho các tàu có thể rời khỏi khu vực an toàn, bằng cách áp dụng hệ thống phân luồng giao thông hiện nay, với điều kiện là các yếu tố an toàn được đảm bảo.
Phó giáo sư Mikhail Khachatryan thuộc Đại học Tài chính Nga nhận định rằng trong điều kiện hiện tại, việc đảm bảo an toàn cho tàu rời khỏi vùng Vịnh chỉ có thể được thực hiện thông qua các thỏa thuận trực tiếp hoặc gián tiếp giữa chủ tàu và chính quyền Iran.
Trước khi chiến sự Trung Đông bùng phát hôm 28/2, eo biển Hormuz là huyết mạch lưu thông của khoảng 20% nguồn cung dầu thô và khí đốt thế giới, cùng với 1/3 nguyên liệu sản xuất phân bón cho ngành nông nghiệp toàn cầu.
Sau khi chiến sự nổ ra, Iran đã gần như phong tỏa eo biển này, chỉ cho phép tàu thuyền của các nước "thân thiện" hoặc nộp phí đi qua. Mỹ đáp trả bằng cách thực thi lệnh phong tỏa bên ngoài vịnh Oman, cảnh báo sẽ bắt giữ bất cứ tàu nào đến hoặc rời đi từ cảng Iran, cũng như đã nộp phí cho Tehran. Tình trạng này khiến các tàu thương mại đối mặt với vòng "phong tỏa kép" khi hoạt động ở khu vực.
"Khi các đồng minh cải thiện năng lực, Mỹ có khả năng rút bớt nguồn lực và triển khai cho những ưu tiên toàn cầu khác. Chúng ta sẽ chứng kiến thêm các quyết định tái bố trí lực lượng Mỹ trong thời gian tới", tướng không quân Mỹ Alexus Grynkewich, người giữ chức Tư lệnh Tối cao NATO tại châu Âu, phát biểu ngày 19/5.
Ông bổ sung rằng quá trình tái bố trí lực lượng Mỹ tại những nước đồng minh NATO có thể diễn ra trong vài năm tới, song chưa thể tiết lộ khung thời gian cụ thể. Tướng Grynkewich nhấn mạnh rằng quyết định rút 5.000 binh sĩ Mỹ khỏi Đức không làm suy giảm năng lực phòng thủ liên minh, khẳng định ông cảm thấy "rất yên tâm" với tình trạng hiện tại của NATO.
Quyết định rút quân được Mỹ công bố sau bất đồng giữa Tổng thống Donald Trump và Thủ tướng Đức Friedrich Merz, xoay quanh xung đột Iran. Chính quyền Tổng thống Trump từ lâu đã phát tín hiệu rằng Mỹ muốn giảm hiện diện quân sự tại châu Âu để tập trung đối phó các mối đe dọa ở khu vực khác.
Dù các thành viên NATO tại châu Âu tìm cách giảm nhẹ tác động từ quyết định này, phương thức thông báo đột ngột đã lại làm dấy lên lo ngại về cam kết của Mỹ với liên minh.
Các nước châu Âu sẽ tìm cách hàn gắn căng thẳng tại cuộc họp cấp ngoại trưởng NATO ở Thụy Điển cuối tuần này, có sự tham dự của Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio. Liên minh cũng đang chuẩn bị cho hội nghị thượng đỉnh tại Thổ Nhĩ Kỳ vào tháng 7.
Phó tổng thống JD Vance cùng ngày cho biết kế hoạch triển khai 4.000 binh sĩ Mỹ tới Ba Lan chỉ bị trì hoãn chứ không hủy bỏ, nhưng kêu gọi châu Âu cần tự lực về an ninh nhiều hơn. "Chúng tôi cần một châu Âu có chủ quyền hơn và có thể tự đứng trên đôi chân của mình. Đó sẽ tiếp tục là chính sách của Mỹ tại châu Âu", ông nói tại cuộc họp báo ở Nhà Trắng.