Tôi từng nghe đâu đó câu nói: “Nếu cuộc đời cho bạn một trái chanh chua, hãy bỏ thêm đường để biến nó thành một ly nước chanh ngon tuyệt”. Lúc đầu tôi chỉ cười trừ. Nhưng giờ nhìn lại, đó chính xác là cách cuộc sống của tôi đang tiếp diễn. Và ly nước chanh đó, thật ra, ngon hơn tôi tưởng rất nhiều.
Tôi mới hơn 30 tuổi. Nhưng nếu tính trải nghiệm sống thì tôi dám tự tin là nhiều hơn không ít người cùng thế hệ. Tôi học ngành không thích, nhưng vẫn tốt nghiệp đại học đàng hoàng. Ra trường, tôi vào làm cho một công ty quốc tế, rồi bỏ ngang để khởi nghiệp. Sau đó, tôi dành bốn năm đầu sau tuổi 22 để làm tình nguyện viên không lương cho các dự án trải dài từ Bắc vào Nam.
Rồi đến một ngày, tôi nhìn lại và thấy mình đã đi đủ xa nên quyết định về quê, xây căn nhà nhỏ gần ba má, cưới vợ và sinh con. Nghe có vẻ như tôi “về vườn”, nhưng thật ra đó là lựa chọn có chủ đích của một người đã chạy đủ vòng rồi muốn dừng đúng chỗ.
Tôi vào làm cho một công ty gần nhà từ những ngày đầu thành lập, thuộc diện “kỳ cựu sáng lập” nếu nói cho oai. Hồi đó, công ty chưa đầy vài chục người, giờ đã gần 3.000 nhân sự. Tôi chứng kiến công ty lớn lên từng ngày, và cũng hết mình với nó: yêu công việc một phần nhưng cống hiến đến 10 phần.
Sau một năm, công ty thành lập thêm một bộ phận mới và cần người dẫn dắt (chỉ tuyển dụng nội bộ). Bộ phận này liên quan đến chăm lo và hỗ trợ con người, khá gần với những gì tôi từng làm hồi đi tình nguyện. Tôi ứng tuyển và may mắn được chọn làm Trưởng phòng. Sau sáu tháng đầu kiêm nhiệm cả hai công việc – vừa giữ việc cũ, vừa xây dựng phòng ban mới, tôi buộc phải chọn một. Tôi chọn dẫn dắt phòng ban mới toàn thời gian.
>> Tôi vẫn kiên định bám nghề sau khi thất nghiệp
Hai năm trôi qua, tôi nhận ra mình không phù hợp với hướng đi đó, không phải vì kém, mà vì tôi đã hiểu rõ bản thân hơn. Và vì ngay từ đầu tôi đã ký một thỏa thuận với Ban giám đốc rằng mình “có quyền quay về bộ phận cũ nếu muốn”, nên tôi đã làm vậy. Bàn giao lại cho cấp dưới, tôi ra đi sòng phẳng.
Nhưng về lại phòng cũ, sếp cũ nhìn tôi, cười xã giao, rồi nói đại ý: “Cứ ngồi đó đi, từ từ tính”. Sếp không bàn giao công việc, không giao nhiệm vụ, không cho họp hành… nói chung là không có gì cả. Vài tuần đầu tôi ngồi ngắm trần nhà theo đúng nghĩa đen và từ từ nhận ra mình đang bị “quiet firing” (sa thải thầm lặng). Họ không đuổi được tôi vì thỏa thuận đã ký, nhưng cũng không có ý định dùng tôi nữa.
Tôi xin sếp nghỉ phép một tháng để “refresh bản thân”. Và tôi thực hiện một chuyến đạp xe xuyên Việt một mình từ Hà Nội vào TP HCM. Những ngày đầu hành trình, đầu óc tôi quay vòng với đủ thứ câu hỏi: nghỉ việc không? Hay tìm chỗ khác làm? Nhưng ở quê thì làm gì? Vợ tôi đang mang bầu, tài chính chưa ổn định, giờ nghỉ thì ăn bằng gì? Tôi không có câu trả lời nào rõ ràng nào trong những ngày đầu đó.
Khi đến Đà Nẵng – khoảng giữa hành trình – tôi bỗng nhìn lại chính chuyến đi này. Chuyến đạp xe xuyên Việt không phải là quyết định bộc phát của tôi sau một sáng thức dậy. Tôi đã mất nửa năm để chuẩn bị: nghiên cứu lộ trình, mua xe đúng loại, tập luyện từng tuần từng tháng, tích lũy từng km… rồi mới xuất phát.
Và tôi nhận ra nghỉ việc cũng phải như vậy. Không thể đùng một cái là nghỉ được, mà phải chuẩn bị kỹ. Tôi cần phải có thứ gì đó chắc chắn trước khi bước ra ngoài. Tôi cần xây một nguồn thu nhập độc lập, không phụ thuộc vào bất kỳ sếp hay công ty nào, trước khi nghỉ việc. Và thế là tôi có kế hoạch cho chính mình.
Về đến nhà sau chuyến đi, tôi bắt tay ngay vào thực hiện. Tôi chọn một mặt hàng đam mê và đã thực sự trải nghiệm suốt ba năm qua – đủ để tôi tự tin bản thân hiểu nó hơn phần lớn người mới bắt đầu. Những video quảng cáo sản phẩm đầu tiên ra đời, tôi vừa quay vừa run, không biết có ai xem không, không biết có ai mua không? Rồi tôi có đơn hàng đầu tiên, và thêm những đơn nữa. Người theo dõi kênh của tôi cũng tăng dần.
Tính đến hôm nay, tôi đã có gần 60.000 người theo dõi trên nhiều nền tảng mạng xã hội, một blog cá nhân, một cộng đồng nhỏ những người chung đam mê và thu nhập từ công việc tay trái này đang gấp đôi mức lương tôi nhận tại công ty.
Trong khi sếp nghĩ tôi đang ngồi không thì tôi đang chốt đơn. Tối nào đi làm về tôi cũng bận rộn đóng hàng, gửi đơn, thu tiền. Thật ra không phải lúc nào công việc cũng suôn sẻ. Những ngày đầu, tôi bị đồng nghiệp cô lập, không ai mời vào nhóm chat, không được gọi họp hành. Cảm giác bị vô hình trong một môi trường bạn từng gắn bó không dễ chịu chút nào.
Nhưng khi tôi tập trung vào dự án của mình, những cảm xúc tiêu cực đó dần tan biến. Và tôi bắt đầu nhìn nhận lại tình huống theo một cách khác hẳn: “Về cơ bản, sếp đang trả lương để mình có thời gian tập trung làm việc riêng”. Đó là cách tôi tiếp tục được.
Có một lần sếp định điều tôi sang làm công việc khác – việc tay chân, không đúng chuyên môn – khi thấy tôi vẫn chưa chịu nghỉ việc. Tôi chỉ nhẹ nhàng nhắc lại điều khoản mô tả công việc trong hợp đồng và nói rõ: nếu bị ép làm sai chuyên môn tôi sẽ kiện lên HR và bên thứ ba ngay. Và từ đó, thứ duy nhất sếp có thể làm với tôi là không giao việc. Tôi chấp nhận điều đó hoàn toàn.
>> Cử nhân quản trị kinh doanh làm shipper sau ba tháng thất nghiệp
Ba năm trôi qua như vậy, lương của tôi vẫn tăng đều theo thời gian. Tôi vẫn lên công ty đúng giờ, ăn cơm miễn phí hai buổi, rồi về nhà đóng hàng. Nhưng có hai câu hỏi tôi vẫn thỉnh thoảng tự hỏi mình lúc nửa đêm: Mình có quá tệ không khi nhận lương mà không làm việc? Sếp đang nghĩ gì khi ba năm rồi vẫn không giao việc gì cho mình mà vẫn tăng lương đều đặn?
Tôi không có câu trả lời dứt khoát cho cả hai. Điều duy nhất tôi biết chắc là: mỗi năm hai lần tôi vẫn ngồi review thẳng thắn với sếp về định hướng công việc. Tôi nói rõ: “Công ty mở rộng thì đừng vội tuyển người ngoài, cứ giao việc cho tôi trước. Tôi vẫn làm được hết những gì đồng nghiệp đang làm, không có gì gọi là khó khăn”. Sếp nghe, gật đầu, rồi lại không giao gì. Hai chúng tôi vẫn đang chờ nhau đến khoảnh khắc tin tưởng lẫn nhau đủ để bước tiếp.
Tôi không có ý định nghỉ việc, ít nhất là chưa phải bây giờ. Tôi vẫn lên công ty đều đặn, vẫn nhận lương, vẫn có phúc lợi để lo cho vợ con, trả nợ tiền đất, xây căn nhà mới. Và buổi tối tôi làm thứ tôi thật sự yêu thích để nhận thêm hai đầu lương nữa từ đó.
Có người sẽ nghĩ tôi đang lợi dụng công ty. Có người sẽ nghĩ tôi đang lãng phí tài năng. Có người sẽ nghĩ tôi dũng cảm. Tất cả đều có thể đúng. Nhưng tôi biết một điều: nếu ngày nào đó công ty quyết định sa thải, tôi sẽ bắt tay với họ, nhận trợ cấp thôi việc, rồi về nhà tiếp tục đóng hàng như mọi ngày. Không có gì thay đổi nhiều lắm. Và đó chính là “ly nước chanh” ngon nhất mà trái chanh chua có thể tạo ra.
Nếu bạn cũng đang trong một tình huống tương tự, tôi không có lời khuyên gì cao siêu, chỉ muốn nói rằng: đừng để người khác quyết định thời điểm bạn rời đi. Hãy tự chuẩn bị cho mình một cái cửa thoát hiểm trước khi cần dùng đến nó.
Người thợ may này là chỗ quen biết của gia đình tôi. Hơn hai mươi năm trước, thay vì vào đại học hay đi làm công nhân, cô quyết định học nghề may. Số tiền học nghề khi đó tương đương vài chỉ vàng, là khoản đầu tư không hề nhỏ đối với một gia đình nông thôn. Sau khi học xong, cô mở tiệm tại nhà.
Đến nay, khi nhiều người cùng thời đã nghỉ việc hoặc liên tục chuyển nghề, cô vẫn sống tốt bằng chiếc máy may của mình. Tay nghề càng cao, khách càng đông.
Chỉ cần đo số đo, vẽ rập, cắt và may, cô có thể tạo ra những bộ đồ vừa vặn với từng người. Điều quan trọng hơn là hiện nay rất khó tìm được một người may giỏi như vậy.
Trước Tết, tôi đi chợ quê, ghé vào một sạp mua vài mét vải may áo bà ba làm quà cho mẹ. Những tấm vải đẹp, hoa văn đa dạng, màu sắc bắt mắt. Người mua chỉ cần nói với chủ sạp là họ cắt cho một khúc vải đủ may áo bà ba. Tiền vải chỉ khoảng 120 nghìn đồng.
Về nhà, mẹ tôi bảo nếu muốn có áo mặc Tết thì phải đặt may từ tháng 10 âm lịch. Còn cận Tết thì gần như không kịp nữa. Điều khiến tôi bất ngờ hơn là tiền công may một chiếc áo bà ba là 350 nghìn đồng, gần gấp ba lần tiền vải. Ngay cả những tháng bình thường, khách cũng phải chờ hơn một tháng mới nhận được đồ.
Đúng là trên các sàn thương mại điện tử, ao bà ba may sẵn bán rất nhiều, nhưng nhiều người vẫn thích may đo trực tiếp. Họ muốn bộ quần áo vừa với cơ thể, đúng kiểu dáng mình thích, mặc thoải mái và bền hơn. Chính nhu cầu tưởng như rất bình thường đó lại tạo ra một thị trường việc làm ổn định cho những người có tay nghề.
Gần nơi tôi sống trên thành phố có một chị chuyên sửa quần áo, lên lai, thay dây kéo, đóng nút, vắt sổ. Tiệm nhỏ nằm trong con hẻm nhưng lúc nào cũng có khách.
Trong khi nhiều sinh viên tốt nghiệp đại học đang chật vật tìm việc đúng chuyên môn, không ít nhân viên văn phòng thấp thỏm trước nguy cơ bị AI thay thế, thì những nghề chân tay đòi hỏi kỹ năng thực tế lại đang thiếu nhân lực nghiêm trọng.
Câu chuyện "thừa thầy thiếu thợ" đã được nhắc đến suốt nhiều năm qua. Nhưng dường như xã hội vẫn chưa thật sự thay đổi cách nhìn. Nhiều gia đình vẫn xem đại học là con đường gần như duy nhất dẫn đến thành công.
Học nghề thường bị coi là lựa chọn thứ yếu, thậm chí là giải pháp dành cho những học sinh không đủ khả năng học tiếp. Chính tâm lý đó khiến lượng người trẻ bước vào các ngành nghề kỹ thuật, thủ công, dịch vụ tay nghề ngày càng ít.
Trong khi đó, thị trường lao động lại vận hành theo một quy luật rất đơn giản: nơi nào khan hiếm lao động thì giá trị lao động sẽ tăng lên.
Một người có thể mất bốn năm đại học để cạnh tranh cho một vị trí văn phòng với hàng trăm ứng viên khác. Nhưng cũng có người chỉ cần vài năm học nghề, rèn luyện tay nghề thật tốt là đã có thể tạo ra nguồn thu nhập ổn định, thậm chí cao hơn mặt bằng chung. Thời gian linh hoạt, có thể vừa làm việc tại nhà, vừa có thời gian đưa rước con đi học.
Dĩ nhiên, không phải ai cũng phù hợp với nghề may, nghề sửa đồ hay các công việc thủ công khác. Xã hội cần cả kỹ sư, bác sĩ, giáo viên lẫn thợ lành nghề. Vấn đề nằm ở chỗ chúng ta đã quá lâu đề cao bằng cấp mà xem nhẹ giá trị của kỹ năng thực hành.
Có phải chúng ta đang dư thừa nhân công ngồi bàn giấy? Và cần những người trực tiếp tạo ra sản phẩm, sửa chữa đồ vật, xây dựng công trình, vận hành máy móc và cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho đời sống?
Một người bạn là chủ quán cà phê của tôi ngay từ lúc phong trào dùng ống hút giấy, ống hút tre còn đang rầm rộ - đã cho rằng thoái trào là chuyện sớm muộn vì giá gốc của các loại ống hút này cao hơn nhiều so với ống hút nhựa. Hàng quán chỉ "đu trend" một thời gian, chứ lâu dài là rất khó.
Riêng tôi nhận xét về góc độ người tiêu dùng: Trải nghiệm không phù hợp. Ống hút tre hơi to, ống hút cỏ bàng thì bị bể và hút giấy, gạo thì bị bở.
Thật sự và vậy, phong trào dùng ống hút tre, ống hút giấy, ống hút làm bằng bột gạo đang thoái trào tại nhiều quán cà phê. Tôi đến nhiều quán cà phê và không còn nhiều quán sử dụng những ống hút này để "bảo vệ môi trường" như vài năm trước.
Xin nhắc lại nhược điểm của những loại ống hút "bảo vệ môi trường": Ống hút tre thì to, khó dùng với nhiều loại ly; ống hút cỏ bàng dễ nứt; ống hút giấy hay bột gạo thì nhanh mềm, uống chưa hết ly nước đã mềm nhũn, và những loại ống hút này dễ bị ẩm mốc.
Một giải pháp tốt về ý tưởng, từng hái ra tiền cho nhiều start-up làm ống hút "xanh", nhưng khi đưa vào đời sống lại không vượt qua được bài kiểm tra cơ bản nhất về tính sự tiện dụng.
Chúng ta đã cố giải quyết một bài toán lớn bằng một chi tiết quá nhỏ. Ống hút chỉ là phần nổi rất nhỏ trong tổng lượng rác thải nhựa. Nhưng vì hầu như ai cũng dùng nên nên ống hút trở thành biểu tượng của lối sống xanh.
Quán cà phê đổi ống hút, khách chụp ảnh check-in, ai cũng có cảm giác mình đang góp phần bảo vệ môi trường. Một thay đổi đơn giản, tạo ra cảm giác tích cực ngay lập tức.
Nhưng khi chi phí tăng lên theo từng tháng, khi khách bắt đầu phàn nàn vì trải nghiệm không tốt, khi những tiện lợi nhỏ bị mất đi, các quán buộc phải quay về lựa chọn cũ.
Ở chiều ngược lại, người tiêu dùng cũng bộc lộ một mâu thuẫn quen thuộc: ủng hộ lối sống xanh trên lý thuyết, nhưng lại không sẵn sàng đánh đổi sự tiện lợi trong thực tế. Mấy ai mua bình giữ nhiệt, ống hút kim loại và chịu khó mang đến quán cà phê hay chùi rửa ống hút kim loại mỗi ngày?
Tôi thì nghĩ khác, liệu có thật sự cần ống hút cho mọi loại đồ uống?
Tại sao không bắt đầu chuyển sang một cách đơn giản hơn chỉ đưa ống hút khi khách yêu cầu. Một số loại nước hoàn toàn có thể uống trực tiếp từ ly. Một thay đổi nhỏ, nhưng có cắt giảm đáng kể số lượng ống hút sử dụng mỗi ngày. Theo tôi, cách này thực tế hơn nhiều so với việc thay chất liệu ống hút.
Còn với người tiêu dùng mang theo bình nước cá nhân, từ chối ống hút khi không cần thiết lắm, liệu mấy ai làm được?
Tôi gặp nhiều bạn trẻ cầm trên tay tấm bằng đại học loại khá, loại giỏi nhưng mất hàng tháng, thậm chí hàng năm để tìm được một công việc đúng chuyên môn với mức lương chỉ 10-15 triệu đồng. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp logistics sẵn sàng trả 30-50 triệu đồng mỗi tháng cho tài xế container nhưng vẫn không tuyển đủ người.
Nếu chỉ nhìn vào con số thu nhập, nhiều người sẽ ngạc nhiên. Tại sao một công việc không đòi hỏi bằng đại học lại có thể được trả lương cao như vậy? Tại sao những ngành học từng được xem là "hot" cách đây vài năm nay lại trở nên khó xin việc? Và quan trọng hơn, người trẻ nên chọn ngành gì để sau khi ra trường không rơi vào cảnh thất nghiệp hoặc làm trái nghề? Những câu hỏi ấy không chỉ liên quan đến lựa chọn cá nhân. Đó là câu chuyện phản ánh sự thay đổi rất sâu sắc của thị trường lao động Việt Nam trong giai đoạn mới.
Nhiều năm trước, khi nói đến nghề nghiệp có thu nhập cao, phần lớn mọi người sẽ nghĩ đến ngân hàng, tài chính, công nghệ thông tin, bác sĩ hoặc luật sư. Đó là những ngành nghề gắn với hình ảnh văn phòng hiện đại, công việc trí óc và vị thế xã hội. Nhiều gia đình vẫn mang suy nghĩ rằng học đại học là con đường duy nhất dẫn tới thành công. Nhiều học sinh cũng được định hướng theo tư duy tương tự. Kết quả là hàng trăm nghìn sinh viên cùng đổ vào một số nhóm ngành nhất định, trong khi các ngành kỹ thuật, cơ khí, logistics, vận tải, tự động hóa hay công nghiệp lại thiếu nhân lực kéo dài.
Nhưng nền kinh tế thực tế lại đang vận hành theo một quy luật khác. Một container thanh long xuất khẩu từ nhà máy không thể tự đi đến cảng. Một lô linh kiện điện tử không thể tự xuất hiện trong nhà máy. Một đơn hàng thương mại điện tử không thể tự đến tay khách hàng. Hệ quả là người cần việc thì nhiều. Doanh nghiệp cần người cũng nhiều. Nhưng hai bên lại không gặp được nhau.
>> '100 triệu đồng một năm nuôi con học đại học'
Qua nhiều năm quan sát thị trường lao động, tôi nhận thấy một sai lầm rất phổ biến. Nhiều bạn trẻ chọn nghề dựa trên hình ảnh thay vì giá trị. Các em quan tâm công việc có "sang" hay không? Có ngồi văn phòng hay không? Có được gọi là chuyên viên, chuyên gia hay không? Nhưng thị trường không trả lương cho danh xưng. Thị trường trả lương cho giá trị.
Nếu phải đưa ra lời khuyên cho học sinh hôm nay, tôi sẽ không khuyên các em chạy theo ngành "hot". Bởi ngành hot của năm nay có thể trở thành ngành bão hòa sau bốn năm nữa. Thay vào đó, hãy nhìn vào những nhu cầu nền tảng của xã hội. Con người luôn cần sản xuất, vận chuyển, chăm sóc sức khỏe, năng lượng, công nghệ, giáo dục. Những lĩnh vực gắn với các nhu cầu nền tảng đó thường có sức sống dài hạn hơn.
Các ngành đáng chú ý gồm: Logistics và quản lý chuỗi cung ứng; Kỹ thuật cơ khí; Tự động hóa; Robot công nghiệp; Công nghệ bán dẫn; Công nghệ thông tin chuyên sâu; An ninh mạng; Năng lượng tái tạo; Điều dưỡng; Kỹ thuật y sinh; Phân tích dữ liệu; Trí tuệ nhân tạo ứng dụng. Điểm chung của các ngành này là chúng giải quyết những vấn đề thực tế của nền kinh tế.
Một thợ hàn công nghệ cao trong các dự án dầu khí hoặc công nghiệp nặng có thể đạt mức thu nhập đáng mơ ước. Một chuyên gia vận hành máy CNC có kinh nghiệm luôn được doanh nghiệp săn đón. Một tài xế container lành nghề có thể đạt thu nhập ngang hoặc cao hơn nhiều vị trí quản lý cấp trung. Nhiều tin tuyển dụng hiện nay ghi nhận mức thu nhập phổ biến từ 25 đến 50 triệu đồng một tháng đối với tài xế đầu kéo có kinh nghiệm và bằng lái phù hợp. Điều quan trọng là phải hiểu xã hội đang thiếu điều gì?
Trong nhiều cuộc trò chuyện với sinh viên mới tốt nghiệp, tôi nhận thấy một tâm trạng khá giống nhau. Các em không thiếu kiến thức. Các em không thiếu nỗ lực. Nhiều em còn sở hữu bảng điểm rất đẹp. Thế nhưng khi bước vào thị trường lao động, các em lại gặp phải một thực tế phũ phàng: doanh nghiệp không tuyển người dựa trên điểm số. Doanh nghiệp tuyển người dựa trên khả năng giải quyết vấn đề. Khoảng cách giữa hai điều đó đôi khi rất xa.
Nhiều trường đại học vẫn đang đào tạo theo chương trình được xây dựng từ vài năm trước. Trong khi đó, doanh nghiệp thay đổi từng quý. Công nghệ thay đổi từng tháng. Thị trường thay đổi từng tuần. Vì vậy, không ít sinh viên vừa tốt nghiệp đã phát hiện ra rằng những gì mình học chỉ đáp ứng được một phần yêu cầu công việc. Đây không phải lỗi của sinh viên. Cũng không hoàn toàn là lỗi của nhà trường. Đó là hệ quả tất yếu của một nền kinh tế đang chuyển động quá nhanh.
Có một điều tôi muốn nói với các bạn trẻ, lựa chọn đúng không phải là chọn ngành có cái tên hào nhoáng nhất, hay ngành mà nhiều người đang đổ xô theo học, mà là tìm được điểm giao nhau giữa ba yếu tố: mình giỏi điều gì? Mình yêu thích điều gì? Và xã hội đang cần điều gì? Khi ba yếu tố đó gặp nhau, cơ hội việc làm tốt, thu nhập cao và sự phát triển bền vững sẽ không còn là điều quá xa vời. Bởi sau cùng, thị trường lao động luôn có một nguyên tắc rất công bằng: Người tạo ra nhiều giá trị hơn sẽ nhận được phần thưởng lớn hơn.